img-detail
calendar 28/07/2026

Ánh sáng nơi núi rừng Tây Bắc

‘‘Là ánh sáng, các con là ánh sáng...’’

Đó là những câu hát đầu tiên tôi được nghe khi vừa đặt chân đến mảnh đất Nậm Pồ. Điều khiến tôi ngạc nhiên là giai điệu ấy không vang lên từ ca đoàn trong Thánh lễ, mà được cất lên bằng giọng hát trong trẻo của một em bé chỉ mới ba tuổi. Có lẽ, ngay từ khoảnh khắc ấy, Chúa đã nhẹ nhàng mở đầu cho hành trình ‘‘Chạm nắng hè 2026’’ của tôi – một hành trình chỉ kéo dài một tháng nhưng đủ để lưu lại trong tim tôi những dấu ấn không thể nào quên.

Tôi đến Nậm Pồ với tất cả sự háo hức, bỡ ngỡ và không ít kỳ vọng. Tôi nghĩ mình sẽ mang đến cho các em những kiến thức, những bài học, những điều tốt đẹp nhất trong khả năng của mình. Thế nhưng, ngay sau cuộc gặp đầu tiên với Sơ đồng hành, khi nghe chia sẻ về những công việc sẽ thực hiện trong suốt khóa hè, Chúa đã dạy tôi bài học đầu tiên.

Đó là bài học của sự ‘‘buông bỏ’’. Buông bỏ những kỳ vọng về khả năng của bản thân. Buông bỏ mong muốn phải làm được thật nhiều điều viển vông. Để rồi học cách trao đi những điều nhỏ bé nhất bằng cả tấm lòng, học cách hiện diện giữa các em thật đơn sơ, thật bình thường. Bởi có lẽ, điều các em cần trước tiên không phải là một người đồng hành thật tài giỏi, hay những lý thuyết xa xôi mà là một người thật sự yêu thương và hiện diện trọn vẹn cùng các em.

Và trong hành trình chỉ vỏn vẹn một tháng ấy, Chúa đã dẫn tôi đi qua những nẻo đường mà trước đó tôi chưa từng nghĩ mình sẽ bước tới.


Chúa cho tôi gặp quý Cha, quý Thầy và quý Sơ FMA – những người đang âm thầm dấn thân với sứ mạng nơi vùng đất ngoại biên. Dù không phải là người con của Giáo phận Hưng Hóa, tôi đã nhiều lần được nghe kể về cánh đồng truyền giáo rộng lớn của giáo phận này. Nhưng chỉ khi đặt chân đến Nậm Pồ, tôi mới thật sự được chạm vào một phần nào đó nhịp sống của vùng truyền giáo. Những bước chân âm thầm của quý Cha và quý Sơ đã in dấu trên những con đường gồ ghề, băng qua núi rừng hiểm trở để mang Chúa đến với từng bản làng xa xôi. Có lẽ, những bước chân ấy chẳng mấy khi được người đời biết đến, nhưng lại âm thầm gieo vào biết bao tâm hồn những hạt giống của đức tin, của niềm hy vọng và của tình yêu. Từ đó tôi hiểu rằng sứ mạng truyền giáo không được đo bằng những công việc lớn lao hay những thành công lừng lẫy, nhưng được dệt nên từ sự trung tín trong từng việc nhỏ, từ những hy sinh thầm lặng và một trái tim luôn sẵn sàng lên đường bất cứ nơi đâu Chúa mời gọi.


Điều gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi chính là việc quý Cha và quý Sơ không chỉ dạy giáo lý hay tổ chức những giờ sinh hoạt, mà còn sẵn sàng hòa mình vào nhịp sống thường ngày của các em: có mặt trên lớp học, ngoài sân chơi, trong những bữa cơm giản dị và cả những giờ phút vui chơi, chuyện trò. Có những sự quan tâm không ồn ào, những cử chỉ chăm sóc rất đỗi âm thầm, nhưng lại trở thành điểm tựa nâng đỡ các em từng ngày. Chính sự hiện diện gần gũi ấy đã trở thành một ngôn ngữ của tình yêu mà có lẽ không lời nói nào có thể diễn tả trọn vẹn.

Rồi Chúa gửi đến cho tôi những em nhỏ người H'Mông thật đáng mến. Các em đơn sơ, chân thành, sống tình cảm và tự lập hơn tôi từng nghĩ. Có lẽ điều tôi sẽ không bao giờ quên là những bàn tay bé nhỏ đã nắm lấy tay tôi trên những con đường đất, cùng nhau leo đồi, băng qua những con suối. Vì đã quen với việc đi bộ nên các em đi rất nhanh và dường như không gặp trở ngại gì, tuy vậy các em vẫn sẵn sàng chậm lại để đợi chúng tôi, để được bước cùng nhau và để không ai bị bỏ lại phía sau.


Các em dạy tôi biết yêu thương mà không tính toán, biết mở lòng với người khác bằng một sự chân thành rất tự nhiên. Mỗi lần chúng tôi đến thăm nhà, tôi luôn bắt gặp ánh mắt rạng rỡ của các em. Các em ríu rít dẫn chúng tôi đi thăm nhà của từng bạn, rồi lặng lẽ nhường chỗ ngồi tốt nhất cho chúng tôi. Có lẽ một trong những kỷ niệm khiến tôi xúc động nhất là bữa cơm trưa với những tô mì tôm giản dị tại nhà một em nhỏ. Chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn, cùng đọc kinh Lạy Cha trước bữa ăn. Chỉ là một bữa ăn rất đơn sơ, nhưng trong giây phút ấy, tôi đã rơi nước mắt. Không phải vì bữa cơm thiếu thốn, mà vì tôi cảm nhận được sự bình an, lòng biết ơn và niềm vui hiện diện trong từng người. Tôi chợt hiểu rằng, hạnh phúc không hệ tại ở việc mình có bao nhiêu, nhưng ở việc mình biết đón nhận và sẻ chia những gì mình đang có.







Điều đánh động tôi sâu sắc hơn cả là lòng yêu mến Chúa của các em. Có lẽ bất cứ ai từng đặt chân đến Nậm Pồ cũng khó mà quên được hình ảnh các em thiếu nhi quy tụ đọc Kinh Phụng vụ, hát lễ và thưa đáp vang vọng cả căn nhà nguyện nhỏ bé. Giữa núi rừng yên tĩnh, những lời kinh mộc mạc ấy như chạm đến tận đáy lòng tôi. Tôi tin rằng Chúa đang âm thầm ở lại trong những tâm hồn bé nhỏ ấy và nuôi dưỡng các em lớn lên bằng tình yêu thương vô điều kiện của Ngài.

Tôi vẫn nhớ một lần đến thăm một bản vào cuối tuần. Khi đi ngang nhà nguyện của giáo họ, một em bỗng nhẹ nhàng nói với tôi: ‘‘Chị ơi, chị đợi em ghé vào chào Chúa đã nhé!’’

Dù chỉ là một cử chỉ giản đơn thôi, nhưng đủ để giúp tôi nhận ra rằng đối với em, việc gặp Chúa không phải là một bổn phận, mà là gặp một người bạn thân thiết. Chính em đã nhắc tôi về tầm quan trọng của việc xây dựng tình bạn với Chúa, điều mà nhiều khi, giữa những bộn bề của cuộc sống, tôi vô tình để nguội lạnh.



Một lần khác, trong thử thách của trò chơi lớn, một em cười rất tươi và nói: ‘‘Chị ơi! Thiếu nhi giáo xứ Nậm Pồ chúng em không sợ mưa, không sợ nắng, cũng không ngại bẩn đâu ạ!’’. Và các em đã chứng minh điều ấy bằng chính tinh thần nhiệt huyết, sự đoàn kết và nguồn năng lượng không bao giờ cạn. Nhìn các em chạy dưới cơn mưa, cười vang giữa sân cỏ, và hòa mình vào những giai điệu của bài hát chủ đề khiến tôi cảm nhận được có điều gì đó trong trẻo và bình an len lỏi vào tâm hồn tôi, như thể mọi mỏi mệt và âu lo đều được những cơn gió và những hạt mưa mùa hạ cuốn đi.

Khóa hè khép lại. Một tháng trôi qua nhanh hơn tôi tưởng. Ngày chia tay đến trong những cái ôm thật chặt, những cái nắm tay bịn rịn và cả những giọt nước mắt chẳng ai muốn để người khác nhìn thấy. Tôi vẫn còn nhiều điều chưa làm được, nhiều dự định còn dang dở, nhiều điều ước giá như mình có thêm thời gian. Nhưng rồi tôi nhận ra, công việc tông đồ chưa bao giờ là của riêng tôi. Chính Chúa là Đấng đã khởi sự, và cũng chính Ngài sẽ tiếp tục hoàn tất và tôi chỉ là một khí cụ rất nhỏ bé trong kế hoạch nhiệm mầu của Ngài.



Rời Nậm Pồ, tôi mang theo không chỉ là những bức ảnh hay những kỷ niệm của một mùa hè, mà còn là một trái tim đã được chạm tới những gì mộc mạc, chân thật nhất. Tôi đã đến với tâm thế của một người muốn trao ban. Nhưng cuối cùng, chính tôi lại là người được nhận lãnh nhiều hơn tất cả.



Và mỗi khi giai điệu ‘‘Là ánh sáng, các con là ánh sáng...’’ bất chợt vang lên trong ký ức, tôi lại nhớ đến những khuôn mặt hồn nhiên nơi núi rừng Tây Bắc, nhớ những bàn tay bé nhỏ từng nắm lấy tay tôi, nhớ căn nhà nguyện đơn sơ với tiếng kinh vang vọng giữa chiều núi, và nhớ rằng Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện nơi những điều bình dị nhất.

Có lẽ, đó chính là ‘‘ánh sáng’’ mà Chúa đã âm thầm để tôi chạm đến trong mùa hè năm nay.

Bài viết: Nguyễn Xuân – Sinh viên Cổ Nhuế, FMA