Ơn gọi thừa sai của Nữ tu trong Huấn giáo
Sr.
Teresa Mai Thị Diễm
Hương, FMA
Nguồn:
hdgmvietnam.com
Bài viết trình bày ơn gọi thừa sai của người nữ tu
trong lãnh vực huấn giáo, đặc biệt qua việc dạy giáo lý và đào tạo giáo lý
viên. Từ căn tính đời thánh hiến, người nữ tu được mời gọi trở nên môn đệ truyền
giáo, loan báo Tin mừng bằng đời sống chứng tá, sư phạm đức tin và lòng nhiệt
thành phục vụ Hội thánh.
|
NỘI DUNG LỜI MỞ I. NỮ TU DẠY GIÁO LÝ
NHƯ NGƯỜI MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO/ CÁCH RIÊNG TRONG LĨNH VỰC HUẤN GIÁO 1. Căn tính của nữ tu a. Bà mụ - ký ức khởi
đầu và tình mẫu tử b. Dì phước - chứng
nhân của lòng bác ái c. Nữ tu – người thuộc
về Chúa d. Nữ tu – cầu nối giữa
tình mẹ và tình cha 2. Nữ tu thừa sai a. Nữ tu lưu giữ ký ức
về Thiên Chúa – ký ức của niềm vui Tin mừng b. Nữ tu dạy giáo lý
như người môn đệ truyền giáo c. Nữ tu dạy giáo lý
– nhà truyền giáo bằng đời sống chứng tá II. ĐÀO TẠO GIÁO LÝ
VIÊN (GLV) THÀNH NGƯỜI MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO 1. Đồng hình đồng dạng
với Chúa Giêsu 2. Thầy – Nhà giáo dục 3. Người truyền cảm hứng 4. Môn đệ truyền giáo III. DẠY GIÁO LÝ THEO
HƯỚNG TRUYỀN GIÁO, ĐÀO TẠO HỌC VIÊN THÀNH MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO 1. Ba ngôn ngữ của
giáo lý a. Trình bày sứ điệp
Lời Chúa (mở trí) b. Nội tâm hóa sứ điệp
Lời Chúa c. Hiện tại hóa sứ điệp
Lời Chúa 2. Dạy giáo lý theo
hướng truyền giáo a. Trước khi dạy b. Trong khi dạy c. Sau khi dạy LỜI KẾT |
LỜI MỞ
Đã lâu, đặc biệt sau Công đồng, Hội thánh ý thức
sâu xa sứ mạng loan báo Tin mừng của mình, mời gọi mọi tín hữu tham gia vào
công cuộc này theo bậc sống của mình. Người sống đời thánh hiến nói chung và
người nữ tu nói riêng không chỉ tham gia công cuộc này xuất phát từ Bí tích
Thánh tẩy và Thêm sức đã lãnh nhận, nhưng còn xuất phát từ chính ơn gọi sống đời
thánh hiến mà thiết yếu là theo sát Đức Kitô, vị Tôn sư của mình. Như thế, là
người sống đời thánh hiến, nữ tu[1] – thuộc bất cứ đặc sủng nào – đều là
những môn đệ truyền giáo hay thừa sai, hoặc bằng đời sống cầu nguyện, hoặc bằng
dấn thân trong mọi lãnh vực của đời sống Giáo hội cũng như xã hội, cách riêng
trong lãnh vực huấn giáo, mà việc dạy giáo lý là một giai đoạn quan trọng trong
tiến trình này.
Để cổ võ việc loan báo Tin mừng trong việc dạy giáo
lý Hội đồng Giáo hoàng Cổ võ tân Phúc âm hóa đã ban hành tài liệu Hướng
dẫn việc dạy giáo lý (2020).[2] Đây là tài liệu quí giá giúp người nữ
tu tham gia vào công cuộc tân Phúc âm hóa của Hội thánh qua việc dạy giáo lý.
Vì thế, trong bài viết này, người viết sẽ tóm gọn
vào ba ý chính:
– Người nữ tu dạy giáo lý như người môn đệ truyền
giáo/ cách riêng trong lĩnh vực huấn giáo
– Người nữ tu đào tạo giáo lý viên trở thành môn đệ
truyền giáo
– Dạy giáo lý theo hướng truyền giáo, đào tạo học
viên thành môn đệ truyền giáo
I. NỮ TU DẠY GIÁO LÝ NHƯ NGƯỜI MÔN ĐỆ TRUYỀN
GIÁO/ CÁCH RIÊNG TRONG LĨNH VỰC HUẤN GIÁO
Bản chất của Hội thánh là truyền giáo, sứ mạng của
Hội thánh là chuyển trao Đức Kitô cho nhân loại; nhưng Đức Kitô không chỉ được
chuyển thông bằng lời, mà phải bằng chính đời sống. Vì vậy, đời thánh hiến của
nữ tu, tự bản chất là thừa sai, là môn đệ truyền giáo khi theo sát Đức Kitô sống
ba lời khuyên Phúc âm để họa lại hình ảnh của Đức Giêsu theo đoàn sủng nhận được
qua đấng sáng lập. Nữ tu trở nên dấu chỉ hữu hình của vị Lang Quân, thể hiện
cho thế giới vẻ đẹp của Thiên Chúa giàu lòng xót thương khi được chính Hội
thánh sai đi vào đời để phục vụ cho sứ mệnh tình yêu này, đây là lời loan báo
Tin mừng hữu hiệu, cách riêng qua việc dạy giáo lý.[3]
Vì vậy, theo tài liệu Hướng dẫn việc dạy
giáo lý (2020), nhiệm vụ đầu tiên của nữ tu là làm cho mọi người thấy
được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm trong đời sống của mình, những con
người dù yếu đuối mỏng giòn, nhưng luôn nỗ lực không những để làm sáng tỏ chân
lý phải truyền đạt, mà còn làm cho hình ảnh của Chúa Giêsu không phai mờ trong
tâm trí các em học viên giáo lý của mình.[4]
1. Căn tính của nữ tu
Từ lâu trong tâm thức người Công giáo Việt Nam,
hình ảnh nữ tu rất đẹp và thiêng liêng, họ được nể trọng và thương mến với những
tên gọi: Bà Mụ, Dì Phước, Nữ Tu. Những tên gọi dễ thương ấy không phải chỉ là
danh xưng mà còn gói trọn cả bản chất và vai trò của nữ tu trong đời sống thánh
hiến.
Một đứa bé khi lọt lòng, có trải nghiệm đầu tiên với
người mẹ, dần dà nhận ra hình ảnh người cha, thì nữ tu cũng được mời gọi, từ
kinh nghiệm sống “tình mẫu tử” của mình, để dẫn tha nhân vào mầu nhiệm tình Cha
của Thiên Chúa.
Chúng ta cùng suy tư trên những từ Bà Mụ, Dì Phước,
Nữ Tu, để hiểu hơn căn tính, vai trò của nữ tu, và để học nơi Chúa Giêsu cách
làm cho tha nhân cảm nghiệm được tình Cha nhân hậu.
a. Bà mụ - ký ức khởi đầu và tình mẫu tử
Theo nguyên ngữ, từ “mụ”[5] không hề mang nghĩa hạ thấp, mà chỉ
người nữ hộ sinh, người phụ nữ đáng kính. Từ “bà mụ” còn gắn với vai trò bề
trên trong cộng đoàn nữ tu, người chăm sóc và dẫn dắt đoàn con thiêng liêng. Vì
thế, từ “Bà mụ” gợi lên một hình ảnh mẫu tử: Người mẹ nâng con trên tay, cho
bú, dỗ dành, bảo bọc; người nữ hộ sinh thì khéo léo đỡ em ra; nâng niu sự sống
ban đầu, còn nữ tu cũng đỡ đần, cưu mang đoàn chiên nhỏ của mình bằng lời cầu
nguyện, trong tâm tư và sự chăm sóc cả thể lý, tinh thần và thiêng liêng nữa.
Ngôn sứ Hôsê đã diễn tả: “Ta xử với chúng như
người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má; Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn.”
(Hs 11,4)
Trong cái nhìn ấy, “Bà mụ” chính là gương mặt của một
người mẹ thiêng liêng, phản chiếu tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Người.
Ngày xưa, các “Bà mụ” thường dạy dỗ, dìu dắt giáo
dân trong đời sống cầu nguyện, thì ngày nay, nơi nhiều xứ đạo quê nghèo, hình ảnh
“Bà mụ” vẫn còn sống động: nữ tu như một người mẹ, người chị lớn, nâng đỡ đức
tin cho cộng đoàn.
Đặc biệt qua việc dạy giáo lý, nữ tu không chỉ truyền
đạt kiến thức, chân lý đức tin, chuẩn bị cho các em lãnh nhận bí tích, mà nữ tu
còn cưu mang những đứa con thiêng liêng trong suốt hành trình đức tin, dẫn dắt
chúng đến với Chúa Cha qua Chúa Giêsu.
b. Dì phước - chứng nhân của lòng bác ái
Từ “Dì phước”[6] rất thân thương gắn liền với các nữ
tu phục vụ tại bệnh viện, trường học, trại mồ côi. “Dì” nghĩa là em của mẹ – gần
gũi, thân tình; “phước” là điều lành, ân phúc.
Vì thế, “Dì phước” được xem là người phúc hậu, nhân
lành, làm nổi bật khuôn mặt bác ái của Hội thánh: Yêu thương người nghèo khổ,
nâng đỡ trẻ mồ côi, giáo dục dạy dỗ trẻ nên người, chữa lành bệnh nhân. Chính
các dì phước là “những chứng nhân sống động của lòng thương xót Chúa” trong xã
hội, nơi mọi môi trường họ sống và phục vụ.
Tông huấn Amoris Laetitia còn khẳng
định: “Các bà mẹ là đối cực mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa duy cá nhân… xã hội nào
không có các bà mẹ đều sẽ bị phi nhân hóa” (174).
Điều này có thể cũng tương tự để diễn tả hình ảnh
các dì phước – nữ tu, họ là những “người mẹ” trong xã hội, chống lại sự vô cảm,
gieo rắc lòng bác ái. Có những người đã từng học trường của các dì phước, hay từng
nằm viện được các dì chăm sóc, đều cảm nhận được sự dịu dàng “mẫu tử” ấy.[7]
Các dì phước là lời chứng hùng hồn cho một Hội
thánh “đi ra” để chữa lành và an ủi.[8] Như thế người nữ tu chính là môn đệ
thừa sai.
Trong lời kinh Kính mừng chúng ta đọc hằng ngày:
– “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa
Trời ở cùng Bà” là lời chào của thiên sứ Gabriel, diễn tả niềm vui và sự ưu
ái của Thiên Chúa dành cho Đức Maria.
– “Đầy ơn phúc” biểu hiện sự trọn vẹn của ân
sủng Thiên Chúa ban cho Mẹ, khiến Mẹ không vướng tội lỗi.
– “Đức Chúa Trời ở cùng Bà” là sự hiện diện
của Thiên Chúa trong đời sống Mẹ, làm nổi bật vai trò của Mẹ là Hòm Bia Giao Ước
Mới, nơi Thiên Chúa ngự trị.
Vậy riêng chữ “Dì”, thì dì là em của mẹ “Phước” là
từ mượn của Hán, ý nghĩa là tốt lành, có chúa ở cùng. Vậy, tên gọi “Dì Phước”,
nghĩa là người nữ được người đời tôn trọng như em của mẹ và luôn toát lên hình ảnh
của Thiên Chúa – có Chúa ở cùng trong mỗi lời nói, mỗi việc làm – qua việc phục
vụ tha nhân.
c. Nữ tu – người thuộc về Chúa
Giáo luật và giáo huấn Hội thánh xác định: Nữ tu là
Kitô hữu khấn giữ ba lời khuyên Phúc âm (khiết tịnh, khó nghèo, vâng phục), hiến
trọn cho Thiên Chúa (x. LG 44; GL 573; GLHTCG 915–916).
Nếu “bà mụ” gợi lên tình mẫu tử, “dì phước” nhấn mạnh
đến việc bác ái, thì “nữ tu” đặt nền trên mầu nhiệm hiến thánh.
Nữ tu không chỉ là người mẹ hiền, thùy mị hay người
dì bác ái, mà còn là hiền thê của Đức Kitô, là dấu chỉ của Nước Trời. Trong Đức
Kitô, nữ tu được Chúa Cha thánh hiến và sai đi.[9]
Như Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn cho Cha, nữ tu cũng
được mời gọi sống trọn vẹn cho Thiên Chúa và dẫn dắt tha nhân đến với Cha.
Trong hành trình đức tin, đứa bé nhìn vào mẹ để dần
nhận ra dung mạo của cha. Cũng vậy, qua đời sống nữ tu, tha nhân được dẫn từ
kinh nghiệm “tình mẹ” (dịu dàng, nâng niu, gần gũi, chăm sóc) để nhận ra “tình
cha” (công minh, chính trực, trung tín, bảo vệ) của Thiên Chúa.
d. Nữ tu – cầu nối giữa tình mẹ và tình cha
Nữ tu phản chiếu khuôn mặt của người mẹ: yêu
thương, chăm sóc, dịu dàng, đôn hậu. Như Tiên tri Isaia diễn tả: “Có phụ nữ
nào quên được đứa con thơ của mình… Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng
chẳng quên ngươi bao giờ.” (Is 49,15)
Qua nét mẫu tử ấy, tha nhân cảm nghiệm được một
Thiên Chúa nhân hậu không bao giờ bỏ rơi con cái. Nhưng căn tính nữ tu không dừng
ở tình mẫu tử, mà là cầu nối dẫn đến tình Cha. Như ca dao: “Công cha như núi
Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”
Hơn nữa, nữ tu sống tình mẫu tử để giúp tha nhân nhận
ra núi đá vững chắc của Cha trên trời, đồng thời cảm nghiệm được tình yêu quan
phòng và kỳ diệu của Chúa Cha: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt
tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!” (Tv 139,13-14a)
Chúa Giêsu vừa là “người Con của Mẹ Maria”, vừa là
“Con yêu dấu của Chúa Cha”. Ngài sống tình mẫu tử, có lòng xót thương như một
người mẹ (Mt 9,36: “chạnh lòng thương đoàn lũ”). Ngài cũng mặc khải dung mạo
Cha nhân hậu (Lc 15: dụ ngôn người cha nhân hậu).
Nữ tu sống đời thánh hiến, bước theo sát Đức Kitô,
cũng được mời gọi sống cả hai chiều kích: dịu dàng của mẹ và trung tín của cha.
Như thế, những danh xưng trìu mến, thân thương “bà
mụ – dì phước – nữ tu” phản ánh một tiến trình đức tin: từ kinh nghiệm tình mẹ
đến việc nhận ra tình cha của Thiên Chúa. Và người nữ tu được mời gọi:
– Giữ ký ức “bà mụ” – trở thành gương mặt mẫu tử
trong cộng đoàn, sống lòng ân cần từ mẫu của người mẹ dịu dàng nâng đỡ đoàn
con.
– Sống tinh thần “dì phước” – hiện diện khắp nơi cần
Dì, Dì sẵn sàng yêu thương, phục vụ vô vị lợi, ân cần chăm sóc với những cử chỉ,
hành động bác ái cụ thể, gieo rắc lòng thương xót trong xã hội đương đại đang
thiếu vắng lòng nhân ái.
– Đào sâu căn tính “nữ tu” – sống triệt để ba lời
khuyên Phúc âm qua việc hiến trọn đời mình cho Thiên Chúa, để tha nhân nhìn vào
chị mà thấy Đức Kitô, và qua Đức Kitô mà nhận ra tình Cha nhân hậu.
Đời sống của chị sẽ vừa dịu dàng thân thương như
người mẹ, vừa cụ thể gần gũi như người dì, và vừa vững vàng trung tín như người
môn đệ của Chúa Giêsu. Chính nơi dung mạo của nữ tu, tha nhân sẽ tìm thấy con
đường để đến với Thiên Chúa là Cha – nguồn mạch của tình yêu.
Hơn thế nữa, nữ tu của ngày hôm nay không chỉ đơn
thuần là môn đệ mà còn là môn đệ truyền giáo khởi sắc cho công cuộc tân Phúc âm
hóa, loan báo Tin mừng qua việc dạy giáo lý như Hội đồng Giáo hoàng Cổ võ tân
Phúc âm hóa đã có ý mời gọi khi ban hành tài liệu Hướng dẫn việc dạy
giáo lý (2020).[10]
2. Nữ tu thừa sai
Trong suốt những thập niên qua, Hội thánh đã nỗ lực
rất nhiều trong công cuộc tân Phúc âm hóa theo hướng hoán cải mục vụ của Đức cố
Giáo hoàng Phanxicô. Người nữ tu cũng được mời gọi hoán cải đường lối mục vụ huấn
giáo của mình, cách riêng dạy giáo lý, qua việc áp dụng những chỉ dẫn của tài
liệu Hướng dẫn việc dạy giáo lý (2020), nghĩa là, đặt mình
trong tình trạng truyền giáo thường trực, dạy giáo lý với tư cách là môn đệ
truyền giáo, dạy giáo lý như một trong những việc bổn phận đến với muôn dân.
Tài liệu này còn xác quyết việc dạy giáo lý là cơ hội tốt và thuận lợi cho nữ
tu thể hiện sắc nét độc đáo ơn gọi và đoàn sủng của mình.[11]
a. Nữ tu lưu giữ ký ức về Thiên Chúa – ký ức của niềm
vui Tin mừng
Giáo lý đặt nền tảng trên Lời Chúa, Lời Chúa còn là
linh hồn của buổi gặp gỡ giáo lý, đời sống đức tin của nữ tu được nuôi dưỡng bằng
chính Lời Chúa mà chị suy tư nguyện gẫm và thực hành mỗi ngày. Thế nên, nhờ
kinh nghiệm này mà khi dạy giáo lý lòng chị trào ra những ký ức về Thiên Chúa
mà chị đã trải nghiệm trong những lần gặp gỡ Chúa Giêsu qua Lời và Bánh. Nhờ vậy
mà việc dạy giáo lý của chị trở nên sống động và hữu hiệu hơn, với sư phạm của
Chúa Thánh Thần đã giúp chị lưu giữ ký ức, say mê Lời và loan báo Lời, đồng thời
đánh thức nó nơi những người chị thụ huấn.[12]
Vậy nữ tu phải làm sao và làm thế nào để lưu giữ ký
ức về Thiên Chúa cho học viên giáo lý? Để không chỉ chị say mê Lời mà còn làm
cho học viên say mê, yêu mến Lời và thích đi học giáo lý?
Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã từng thúc đẩy và mời
gọi phải dạy giáo lý sao cho học viên cảm nhận được vẻ đẹp của tôn giáo và niềm
vui của Tin mừng.[13]
Tài liệu Hướng dẫn việc dạy Giáo lý (2020)
cũng nêu rõ: những người sống đời thánh hiến được kể vào số những người cống hiến
nhiều nhất cho việc mục vụ huấn giáo. Vấn đề là làm thế nào để những ơn hiện sủng
và đặc sủng, như những nén bạc Chúa ban cho nữ tu được sinh lời trong việc dạy
giáo lý, cụ thể là làm sao để trẻ em và giới trẻ thích đi học giáo lý, làm sao
để giờ học giáo lý quảng diễn được vẻ đẹp của Thiên Chúa và chuyển tải được niềm
vui của Tin mừng. Điều này mời gọi chúng ta cùng suy tư làm sao để giờ giáo lý
đạt hiệu quả tốt. Tôi liên tưởng đến ba từ “chill”, “healing” và “flex” dựa
trên ba trục chính trong diễn tiến của buổi gặp gỡ giáo lý.
– Chill/tận hưởng: Thời này, bạn trẻ đi uống cà phê, tìm
quán nào có “view” đẹp để check in, có cá Koi rỉa chân để thư giãn, lại còn thưởng
thức được cà phê ngon, giá lại mềm, thế mới chill! Việc dạy giáo lý còn hơn thế
nữa, phải làm sao cho các học viên chill khi đi học giáo lý!
Như các môn đệ trên núi Tabor, xin dựng ba lều để
được ở lại vì hạnh phúc được chiêm ngưỡng vinh quang Chúa (x. Lc 9, 28b - 36).
Học giáo lý cũng phải chill, học viên phải được ngỡ ngàng và nhận ra sự kỳ diệu
của Thiên Chúa ngang qua những kiến thức, nội dung và sứ điệp được trình bày. Bất
cứ nội dung gì, đối tượng nào, mỗi ngày học giáo lý là mỗi khám phá ra cái mới,
cái hay, những điều thiện hảo của Thiên Chúa nơi những con người, qua thiên
nhiên, qua vũ trụ.
Nữ tu tuy nhỏ bé, sống ẩn dật khiêm hạ, nhưng sự hiện
diện của chị là sức mạnh phản ánh vinh quang Thiên Chúa không chỉ trên núi
Tabor ngày chị tuyên khấn, mà còn qua mầu nhiệm Thập giá chị kết hợp với Chúa
Giêsu trong những lao nhọc của đời sống hằng ngày. Chị say mê Chúa Giêsu thế
nào, thì chị làm cho học viên giáo lý “chill” thế ấy.[14]
--> Đây là phần đầu tiên của Buổi gặp gỡ giáo lý
– TRÌNH BÀY SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA.
– Healing/chữa lành: Trong khoảng thời gian vài năm gần đây,
hễ cứ cuối tuần hay những dịp nghỉ lễ, các bạn trẻ đi du lịch, đi tắm biển, kể
cả đi phượt cũng gọi là đi chữa lành. Thời đại này, trong lòng mỗi người, ít
nhiều đều hằn những vết thương cần được chữa lành.
Liên tưởng tới nhà Bêtania năm xưa thật ấm áp, nơi
đây Chúa Giêsu được đón tiếp, được hàn huyên, sống tình bạn với ba chị em
Marta, Maria và Ladaro sau những lần mệt mỏi của việc rao giảng hay chữa lành.
(x. Lc 10,38-42)
Làm sao để lớp Giáo lý là nhà Bêtania hôm nay, khi
Buổi gặp gỡ giáo lý có chính Chúa Giêsu làm trung tâm và Chúa Thánh Thần tác động
vào tâm hồn của mỗi học viên, làm cho họ gặp gỡ được Chúa Giêsu, tâm hồn họ được
biến đổi và được chữa lành.
Từ cảm nghiệm tình yêu sâu xa và ý nghĩa của Mầu
Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cách cụ thể trong đời sống huynh đệ cộng đoàn, nữ tu
giúp cho học viên giáo lý nội tâm hóa những gì đã học và nhận ra ân ban của
Thiên Chúa, để học viên cảm nghiệm được Chúa yêu thương, được nâng đỡ và chữa
lành.[15]
--> Đây là phần thứ hai của Buổi gặp gỡ giáo lý
– NỘI TÂM HÓA SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA.
– Flex/khoe: Xu hướng của nhiều người trẻ ngày nay, có gì
cũng muốn khoe, đưa lên mạng xã hội, facebook, zalo… để khoe những gì mình có,
khoe “hàng hiệu”, khoe những thành công, những chiến tích đã lập được.
Liên tưởng tới cuộc thăm viếng của Đức Maria đến
người chị họ Êlisabet, trong cuộc gặp gỡ này, Đức Maria đã vui mừng, cất lên
bài ca Magnificat, Mẹ ngợi khen Thiên Chúa và kể ra những điều kỳ diệu Chúa đã
làm trên cuộc đời mình với lòng biết ơn. (x. Lc 1,39-56)
Sứ mệnh của những người sống đời thánh hiến không
gì khác hơn là phản ánh những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm trên cuộc đời họ
dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Thế nên đời sống của nữ tu cũng là bản
Magnificat ca ngợi tình yêu của Thiên Chúa Cha, Đấng thánh hiến họ, là lời đáp
cùng Chúa Giêsu vị Lang Quân. Càng yêu họ càng khao khát đáp lại cách mãnh liệt
và triệt để.[16]
Cùng với kinh nghiệm này, nữ tu dẫn dắt học viên
giáo lý từ cảm nghiệm được Chúa yêu thương đến khao khát đáp lại tình yêu
thương ấy bằng chính những hành động cụ thể trong đời sống thường nhật.
--> Đây là phần thứ ba của Buổi gặp gỡ giáo lý
– HIỆN TẠI HÓA SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
b. Nữ tu dạy giáo lý như người môn đệ truyền giáo
Tài liệu Hướng dẫn việc dạy giáo lý (2020)
có nói đến những nữ tu tham gia vào hoạt động dạy giáo lý, họ đã đóng góp những
nét độc đáo và đặc thù riêng như những hoa trái của Thánh Thần cho Giáo hội.[17]
Quả thật đây là ân phúc lớn lao Chúa ban cho các nữ
tu, được góp phần vào sứ mạng cứu độ của Giáo hội trong lãnh vực huấn giáo.
Trong các Đại hội Giáo lý Toàn quốc của Giáo hội Việt Nam và Đại hội Giáo lý Thế
giới 2022, nữ tu là thành phần đáng kể. Các chị tham gia tích cực vào lãnh vực
huấn giáo trong Giáo hội địa phương, cống hiến khả năng sư phạm hay chuyên môn
trong việc dịch thuật các tài liệu liên quan đến giáo lý, soạn thảo thủ bản
giáo lý, đào tạo giáo lý viên (GLV) trong các giáo phận, dạy giáo lý tại các
giáo xứ …[18]
– Nữ tu dạy giáo lý - thể hiện nét riêng của
đoàn sủng
Trong suốt dòng lịch sử Hội thánh, chúng ta thấy sự
ra đời của mỗi hội dòng nhờ ân huệ của Chúa Thánh Thần như đáp ứng nỗi mong chờ
sâu xa của những người nghèo và nhu cầu của Giáo hội và xã hội trong chính thời
đại đó. Nữ tu được ủy thác nhiệm vụ dạy giáo lý như cơ hội để chuyển trao những
giá trị đặc sủng của hội dòng.[19]
Ngay trong hiến pháp của mỗi hội dòng đã xác định
linh đạo, đoàn sủng và sứ mệnh đặc thù, cách riêng là trong lãnh vực huấn giáo,
các nữ tu dạy giáo lý như một cơ hội thể hiện rõ nét đoàn sủng của mình, mỗi Hội
dòng dạy giáo lý đều thể hiện tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, đều họa
lại dung mạo của Chúa Giêsu, đời sống và sứ vụ của Ngài, nhưng rất riêng theo
linh đạo và đoàn sủng của hội dòng.[20]
– Nữ tu Con Đức Mẹ Phù hộ: Sống đức ái mục tử của
Chúa Giêsu, phỏng theo lòng ân cần từ mẫu của Đức Maria, ứng dụng Hệ Thống Dự
Phòng với ba yếu tố, lý trí – tôn giáo và tình yêu trong sứ mệnh giáo dục và
truyền giáo. Giáo lý của họ thể hiện tình yêu thương cứu độ của Thiên Chúa được
diễn tả nơi hình ảnh của Chúa Giêsu mục tử hết lòng yêu thương chăm sóc đoàn
chiên, biết chiên, nghe tiếng chiên, hy sinh mạng sống cho đoàn chiên.
– Nữ tu Mến Thánh giá: sống mầu nhiệm tình
yêu Thập giá, nối tiếp cuộc đời hy sinh – Tử nạn của Chúa Giêsu, phục vụ anh em
đồng loại và thực thi sứ vụ tông đồ thừa sai. Giáo lý của các chị thể hiện tình
yêu thương cứu độ của Thiên Chúa được diễn tả nơi Mầu nhiệm Thập giá, Con Thiên
Chúa đã yêu thương nhân loại đến hy sinh chính mạng sống mình.
– Nữ tu Nữ tử Bác ái: sống các mối
phúc, rập khuôn Chúa Kitô, phục vụ những người nghèo, chăm lo cho những người
thiếu thốn và bệnh tật. Giáo lý của chị thể hiện tình yêu thương cứu độ của
Thiên Chúa trong hình ảnh của Chúa Giêsu, vị Thầy và lời rao giảng về Bát Phúc
trên núi, mời gọi con người sống tinh thần của tám mối phúc vì Nước Trời.
– Nữ tu dạy giáo lý – qua giáo dục – đến
với muôn dân
Lời kêu gọi “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên
hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15) của Chúa Giêsu ngày
càng khẩn thiết hơn. Đáp lại lời mời gọi loan báo Tin mừng của Chúa Giêsu, thời
nay việc dạy giáo lý như một trong những việc đến với muôn dân.[21] Lối mục vụ ngày nay là hình tháp
ngược, không phải mọi học viên đều đến với lớp giáo lý, mà nữ tu là người đi bước
trước đến với học viên trong bối cảnh đời thường của chúng. Trong môi trường
giáo xứ chị là cầu nối giữa gia đình với cha xứ; trong môi trường giáo dục học
đường đa văn hóa đa tôn giáo hiện nay, chị là nhịp cầu đối thoại và gieo mầm
Tin mừng.[22] Thông truyền mầu nhiệm đức tin, sự
hiểu biết về Đức Kitô và dẫn dắt họ vào những chiều kích khác nhau của đời sống.[23] Nên trong bối cảnh ấy, trước hết chị
cần lo cho các em học sinh của chị sao cho chúng có cái ăn, cái mặc, cái chữ rồi
việc giáo dục đức tin chắc chắn sẽ hiệu quả hơn khi chúng được ấm bụng và tâm
an. Vì giáo dục đức tin phải là một tiến trình giúp cho người thụ huấn: thành
người, thành người Kitô hữu tốt, có đức tin trưởng thành và rồi nên thánh.
c. Nữ tu dạy giáo lý – nhà truyền giáo bằng đời sống
chứng tá
Sáng thứ Tư 22/3/2023, trong buổi Tiếp kiến chung,
Đức cố Giáo hoàng Phanxicô nhắc lại Tông huấn Evangelii nuntiandi -
Loan báo Tin mừng - của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, ngài nói với các tín hữu rằng
“Cách thế đầu tiên để loan báo Tin mừng là làm chứng tá”, bởi vì “con
người ngày nay cần chứng nhân hơn là thầy dạy.”[24]
Nhiều lần khác nhau trong bài huấn dụ, Đức cố Giáo
hoàng Phanxicô xác quyết việc loan báo Tin mừng không phải là “chiêu dụ”, mà là
“lôi cuốn” bằng đời sống chứng tá.[25]
Quả thế, các nữ tu không ngừng “đi ra”, đến với mọi
vùng biên cương của thế giới, như những nhà truyền giáo ad gentes, loan
báo Tin mừng đầu tiên cho những người chưa bao giờ được nghe, được biết về
Chúa; như những người môn đệ truyền giáo, tân Phúc âm hóa cho những người đã rửa
tội, nhưng không sống đạo hay sống đạo cách thờ ơ.
Dưới bất cứ hình thức nào, thì lời loan báo Tin mừng
của môn đệ truyền giáo sẽ hiệu nghiệm khi chị được lôi cuốn bởi Chúa Giêsu,
loan báo Ngài bằng chính đời sống chứng tá của mình và cũng chính Chúa Giêsu
làm cho chị thành chứng nhân thực thụ.
Có rất nhiều nữ tu đã âm thầm hy sinh đời mình cho
sứ mệnh truyền giáo – dạy giáo lý bằng ngôn ngữ sống động và hiệu quả nhất vẫn
là đời sống chứng tá. Chứng từ rất sống động của Sr. Maria Troncatti,[26] một nhà truyền giáo vĩ đại mà sắp tới
đây 19 tháng Mười 2025, Đức Thánh cha Lêô XIV sẽ phong thánh cho chị tại Roma.
Chị Maria Troncatti đích thực là giáo lý viên, người môn đệ truyền giáo[27]. Chị sinh tại Cortegno Golgi (Brescia)
ngày 16/02/1883. Chị gia nhập Dòng Con Đức Mẹ Phù hộ và khấn lần đầu năm 1908 tại
Nizza Monferrato. Năm 1922 chị lên đường truyền giáo tại rừng rậm Amazon,
Ecuador cùng với hai chị khác. Lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và lửa nhiệt
tình truyền giáo đã nung nấu chị suốt 46 năm sống và làm việc giữa những người
dân tộc Shuar. Công cuộc rao giảng Tin mừng của chị ở đây đầy thách đố. Dù phải
đối diện với những nguy hiểm đủ loại, nguy hiểm do những thú dữ trong rừng, hoặc
phải đi qua những dòng sông nước chảy siết, những cây cầu chông chênh bằng dây
leo. Dù khó khăn, chị vẫn trung kiên vì có Chúa ở cùng và Mẹ Maria Phù hộ chở
che. Ở cánh rừng rậm ấy, chị được hết mọi người gọi là mẹ, chị có chuyên môn về
điều dưỡng, nhưng chị phục vụ và làm đủ mọi thứ việc: Y tá, bác sĩ phẫu thuật,
bác sĩ chỉnh hình, nha sĩ, bác sĩ gây mê… Nhưng trên hết, chị là một giáo lý
viên giàu phẩm chất, giàu đức tin, với sự kiên nhẫn và tình mẫu tử, chị không
chỉ chữa lành thể xác mà còn chinh phục được biết bao tâm hồn về cho Chúa. Chị
tiếp cận với mọi đối tượng khác nhau, dạy giáo lý cho cả trẻ em lẫn người lớn. Ngoài
ra, chị còn loan báo Tin mừng qua giáo dục để thăng tiến các phụ nữ Shuar. Nhờ
việc đồng hành và dạy giáo lý, công cuộc này đã đem lại hoa trái là hàng trăm
gia đình bổn đạo Công giáo mới, do chính các đôi bạn trẻ chọn lựa chứ không
theo truyền thống.
Lúc bấy giờ, tuy chị đã cống hiến và nỗ lực rất nhiều
cho việc hòa giải giữa hai dân tộc, người thực dân và người Shuar, nhưng vẫn
chưa có kết quả. Chị đã cầu khẩn xin Chúa cho chị được hiến dâng mạng sống mình
vì nền hòa bình và hòa giải giữa hai dân tộc này. Chúa đã nhận lời chị, một của
lễ toàn thiêu đẹp lòng Chúa. Chị Maria về Nhà Cha trong một cuộc đụng máy bay
thảm khốc tại Sucua ngày 25/8/1969. Thi hài chị đặt tại Macas, tỉnh dòng Morona
(Ecuador). Vào ngày lễ an táng của chị, cả hai nhóm dân tộc Shuar và những người
thuộc địa đã ở bên nhau, cùng chung nỗi đau, cùng khóc thương một người mẹ. Sau
cái chết của chị, nền hòa bình ở đây thật sự được thiết lập.
II. ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN (GLV) THÀNH NGƯỜI MÔN ĐỆ
TRUYỀN GIÁO
Bản chất của nữ tu sống đời thánh hiến đã là thừa
sai. Nên giáo dục những môn đệ thừa sai cũng là nhiệm vụ hàng đầu của chị để cộng
tác với Giáo hội địa phương trong những việc tông đồ khác nhau, cách riêng
trong lãnh vực huấn giáo.[28]
GLV là một ơn gọi, ơn gọi này đến từ Thiên Chúa, được
Hội thánh ủy nhiệm và sai đi. Vì thế, GLV cũng cần được đào tạo trong chính môi
trường cộng đoàn và có cảm thức thuộc về Hội thánh. Trong những tài liệu hướng
dẫn trước, việc đào tạo GLV dựa trên 4 chiều kích: thiêng liêng, nhân bản, trí
tuệ và mục vụ.[29]
Chương trình Đào tạo của Tổng Giáo phận (TGP) Sài
Gòn cũng với chủ đích huấn luyện GLV trong 4 chiều kích này, trải dài trong suốt
thời gian 3 khóa/3 năm với lộ trình sau:
– Hướng tới một đức tin trưởng thành: Giúp cho đức tin của
GLV trở nên sống động, minh nhiên và hữu hiệu.[30] Có khả năng sống hiệp thông mật thiết
với Chúa Giêsu, trở nên phần tử sống động của Giáo hội và thành sứ giả loan báo
Tin mừng.
– Hướng tới một đức tin toàn diện: Giúp cho GLV khi dạy
giáo lý làm cho chính mình và học viên được hiểu biết đức tin,
giáo dục phụng vụ, huấn luyện luân lý, dạy cầu
nguyện, giáo dục đời sống cộng đoàn, khai tâm cho việc truyền
giáo.[31]
– Hướng tới một đức tin dấn thân phục vụ: Giúp cho GLV có đủ khả
năng chuyên môn và sư phạm để dạy giáo lý theo tinh thần và hướng dẫn của Giáo
hội.
Để thực hiện chủ đích trên, chương trình được thiết
lập theo một lộ trình xây dựng và củng cố mối tương quan giữa
GLV với Thiên Chúa, với cộng đoàn và với xã hội, qua 3 giai đoạn sau:
– Giai đoạn 1 (Cấp I): Huấn luyện và
củng cố tương quan cá vị với Thiên Chúa với ba giảng khoá chính trợ
giúp cho giai đoạn này: nhân bản; tín lý;
linh đạo - kinh nguyện.
– Giai đoạn 2 (Cấp II): Huấn luyện và
củng cố tương quan với Giáo hội, nhờ tìm hiểu ba giảng khóa: Lịch
sử Cứu độ; Lịch sử Giáo hội; Phụng vụ và Bí
tích.
– Giai đoạn 3 (Cấp III): Huấn luyện
và củng cố tương quan trong xã hội, hướng đến việc dấn thân phục vụ và
làm chứng với ba giảng khoá cột trụ: Học thuyết xã hội của Giáo hội;
Dẫn vào các tôn giáo; Luân lý.
Đặc biệt hơn, dạy giáo lý là thực thi tác vụ
Lời Chúa và giáo dục đức tin, nên hai giảng khoá Thánh kinh và Sư
phạm sẽ được trải đều trong cả ba giai đoạn với hai cấp độ
khác nhau: căn bản và chuyên biệt.
Chương trình trên đã được các Cơ sở Đào tạo GLV của
TGP Sài Gòn thực hiện như môt lộ trình đào tạo căn bản trong suốt hơn 15 năm
qua. Thêm vào đó, hiện nay, cùng với tài liệu Hướng dẫn việc dạy giáo
lý (2020) của Hội đồng Giáo hoàng Cổ võ tân Phúc âm hóa, chúng ta cần
đào tạo GLV thành những người môn đệ truyền giáo bằng cách giúp họ tiếp nhận và
đào sâu lời loan báo đầu tiên (kerygma) để bước vào mầu nhiệm (mystagogic)
của gặp gỡ và hiệp thông với Chúa Giêsu, từ niềm vui của cuộc gặp gỡ mang lại sự
biến đổi này, GLV sẽ ra đi loan báo Tin mừng (mission).[32] Việc đào tạo GLV được khởi đi từ
căn tính của GLV.
1. Đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu
Sáng Chúa nhật 28/9 vừa qua, trong Thánh lễ Năm
thánh dành cho GLV, Đức Thánh cha Lêô XIV đã xác quyết GLV là “người của Lời”.
Hơi thở của GLV là Lời Chúa, nên GLV phải có đời sống gắn kết với Chúa qua Lời
và Bánh. GLV cần siêng năng tham dự thánh lễ hằng ngày để tiếp cận, cưu mang Lời
trong lòng và thực thi Lời ấy trong mọi môi trường sống của mình.
Đức Giáo Hoàng còn nhắc nhở các GLV rằng, họ chính
là môn đệ của Chúa Giêsu, sứ vụ của họ bắt nguồn từ chứng tá: “Tên gọi của sứ
vụ này xuất phát từ động từ Hy Lạp ‘katēchein’, có nghĩa là ‘dạy lớn
tiếng, làm vang vọng’. Điều này có nghĩa là GLV không chỉ là người của Lời,
mà một lời được họ thốt ra bằng chính đời sống của mình.
Có như thế, GLV mới nên đồng hình, đồng dạng với
Chúa Kitô và là người lưu giữ ký ức về Thiên Chúa, để như Thánh Augustinô nói:
“Hãy giải thích mọi sự sao cho người nghe con, nhờ lắng nghe mà tin; nhờ tin
mà hy vọng; và nhờ hy vọng mà yêu mến.”
Từ kinh nghiệm sống gắn bó với Chúa, được Thánh Thần
biến đổi, GLV có khả năng sống cùng, sống với người khác, được Hội thánh đào tạo,
GLV có nghệ thuật đồng hành với người thụ huấn.
2. Thầy – Nhà giáo dục
Ngày 10/5/2021, Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã ban
hành Tự sắc Antiquum Ministerium về thừa tác vụ GLV, một nhiệm
vụ đã có từ thời các Tông đồ. Hội thánh tín nhiệm cho phép một số người được giải
thích và dạy đức tin. Đây là một ơn gọi phổ quát và chuyên biệt, được Thánh Thần
thúc đẩy để phục vụ sứ mạng loan báo Tin mừng, là thầy dạy và nhà giáo dục Kitô
hữu.[33]
Ngày nay, Đức Thánh Cha đương nhiệm cũng kế thừa đường
lối này. Nên cũng vào Thánh lễ Chúa nhật (28/10/2025) vừa qua trong dịp Năm
Thánh của các GLV tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã trao thừa tác
vụ GLV cho 39 ứng viên, đại diện cho nhiều quốc gia, họ được xướng tên và chính
Đức Thánh Cha đã trao thánh giá cho họ như dấu hiệu của sứ mạng cao cả mà họ
đang đảm nhận.
Sứ mạng là thầy và nhà giáo dục đức tin rất quan trọng,
vì được tham gia vào sứ mệnh cứu độ của Hội thánh. Thế nên, GLV phải có tinh thần
sẵn sàng học hỏi, cần có kiến thức tổng hợp về mọi lĩnh vực: Giáo hội, xã hội,
tâm lý, truyền thông để tiếp cận chân lý và còn để cho mình được chạm đến bởi
ân sủng, bởi cuộc sống, bởi những con người. Tóm lại GLV để cho mình được đào tạo
và luôn mở ra cho những điều mới mẻ của Thần Khí, để chính mình có được khả
năng chăm sóc và nuôi dưỡng đức tin cho chính mình và người thụ huấn.[34]
3. Người truyền cảm hứng
Lưu giữ ký ức về Thiên Chúa chưa đủ, GLV còn có nhiệm
vụ đánh thức ký ức về Thiên Chúa nơi học viên của mình khi dạy giáo lý. Tức là
lối dạy giáo lý theo hướng Kerygma, là đầy lửa của Thần Khí được
ban dưới hình thức ngôn ngữ mà các tông đồ đã lãnh nhận trong ngày lễ Ngũ tuần
(Cv 2,1-11). Từ những con người sợ hãi, nhút nhát đóng cửa kín, nhưng sau khi
được lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các ông mở toang cánh cửa ra đi khắp nơi, loan
báo về Chúa Giêsu, Đấng đã cùng ăn, cùng uống, cùng sống với các ông, Đấng ấy
đã chịu đau khổ, chịu chết và nay đã sống lại. Lúc đó, mọi người kinh ngạc vì
nghe các tông đồ giảng như nói chính tiếng bản xứ của họ và họ đã cảm nhận được
Đấng Kitô Phục sinh ấy đang ở giữa họ, yêu thương và chết vì chính tội lỗi của
họ. Đấng ấy đã cứu độ họ.
Vì thế, Đức cố Giáo hoàng Phanxicô nói Kerygma là
ý nghĩa đầu tiên của Lời loan báo chính thức, nên trong suốt Buổi gặp
gỡ giáo lý ở những bước khác nhau trong những thời điểm khác nhau luôn phải
là Kerygma, tức là khi GLV truyền đạt chân lý đức tin tràn đầy lửa
Thần Khí, học viên nghe những lời nói đó được chính Chúa Thánh Thần chạm vào
lòng. Người thụ huấn cảm nhận như chính Chúa Giêsu Phục sinh đang ở giữa họ và
yêu thương họ. Chính vì điều này mà Đức Thánh Cha đã từng nói, dạy giáo lý cho
ai, ở độ tuổi nào, nội dung gì, cũng chỉ là để nói cho họ: Chúa Giêsu
Kitô yêu thương bạn![35]
4. Môn đệ truyền giáo
Lệnh truyền của Chúa Giêsu cho các môn đệ:
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”
(Mc 16,15) với ước muốn các ông đi ra, vội vã, đồng hành và như thế các ông là
những người môn đệ truyền giáo đích thực của Chúa Giêsu. GLV dạy giáo lý theo
hướng Kerygma, GLV cũng phải là môn đệ truyền giáo, tức là người có khả năng
nuôi dưỡng đời sống đức tin nơi mình và nơi người thụ huấn. Vì dạy giáo lý
không đơn thuần là truyền đạt kiến thức hay một sứ điệp mà là chia sẻ sự sống đến
từ Thiên Chúa và thông truyền niềm vui gặp gỡ Thiên Chúa của chính mình. Điều
này cũng nhắc nhở GLV về mục đích của việc dạy giáo lý là giúp cho học viên gặp
gỡ được Thiên Chúa chứ không phải là kết quả của sự phân biệt và chọn lựa đạo đức
mà chính là gặp một biến cố, một con người, mang lại cho cuộc sống một chân trời
mới và một hướng đi quyết định.[36]
Ngoài ra, GLV cần học sư phạm của Thiên Chúa đi bước
trước đến với con người, học sư phạm của Chúa Giêsu “nhập thế và nhập thể”, có
khả năng làm việc chung, biết giao tiếp, là người của mọi người, sống sự thuộc
về, sống tâm tình con thảo với Giáo hội khi biết lắng nghe sự hướng dẫn của cha
xứ, của cha đặc trách, biết liên đới với nhau trong đoàn thể GLV. Hơn nữa, GLV
cần nhớ nguyên tắc trình bày giáo lý là trung thành với Thiên Chúa và trung
thành với con người, biết cách nói về Thiên Chúa theo cách thức của con người,
nói với con người theo cách thức của Thiên Chúa. Và người GLV cũng cần có khả
năng đón nhận học viên như họ là và để họ trở thành nhân vật chính khi chúng ta
kết hợp giữa phương pháp sư phạm và phương pháp giảng dạy. Bởi vì truyền đạt đức
tin trong việc dạy giáo lý qua trung gian là chính con người và được thực hiện
bởi cuộc gặp gỡ giữa Lời Chúa và kinh nghiệm của con người.[37]
III. DẠY GIÁO LÝ THEO HƯỚNG TRUYỀN GIÁO, ĐÀO TẠO HỌC
VIÊN THÀNH MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO
“Vô tri thì bất mộ”, phải biết về Thiên
Chúa, mới yêu mến và nên giống Ngài. Thế nhưng dạy giáo lý không đơn thuần là
truyền đạt kiến thức, mà mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là giúp con người
kết hợp mật thiết và hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô. Vậy với mục đích này, phải
dạy giáo lý thế nào?
Trước tiên làm cho việc dạy giáo lý
như một lời vang vọng của kerygma: Lời rao giảng phải diễn tả
tình yêu cứu độ của Thiên Chúa vốn đi trước các bổn phận luân lý và tôn giáo,
không áp đặt chân lý nhưng mời gọi tự do và mang dấu ấn của niềm vui và khích lệ,
mang tính Tin mừng hơn là triết lý, chứng tá hơn là giáo điều, chú trọng đến
thái độ tương quan hơn là khái niệm suông và tập trung vào ơn cứu độ.[38]
Dạy giáo lý theo hướng truyền giáo trước tiên cần
phải thoát ra khỏi 2 quan niệm là dạy giáo lý như một môn học ngoài trường và dạy
giáo lý để lãnh bí tích. Tiếp đến, dạy giáo lý theo hướng truyền giáo đòi buộc
GLV và học viên mở ra cho chân lý (fides quae) cũng như đón nhận và đáp trả
(fides qua) như phương pháp luận [phân định: xem (dấu chỉ) – xét (traditio: ký ức
Thiên Chúa) – làm (đáp lại: redditio). Hay nói cách khác dạy giáo lý bằng ba
ngôn ngữ, cái đầu; trái tim và đôi bàn tay, tức là: mở trí, mở tâm và mở tay.[39]
1. Ba ngôn ngữ của giáo lý
a. Trình bày sứ điệp Lời Chúa (mở trí)
Qua bản văn Lời Chúa, GLV cho học viên (HV) tiếp cận,
quan sát để nắm được nội dung, hiểu được ý nghĩa Kinh thánh. GLV cho HV đối chiếu
Lời Chúa với đời sống đức tin. HV nhận ra ân ban và lời mời gọi của Chúa (Thiên
Chúa xướng) và khao khát đáp trả.
– Làm cho HV sáng trí ______ mở
trí (chill) – khám phá những điều Chúa ban
b. Nội tâm hóa sứ điệp Lời Chúa
GLV dành thời gian cho HV gặp gỡ Chúa, lắng nghe tiếng
Chúa, khao khát đáp lại tình yêu của Thiên Chúa với tâm tình tạ ơn, chúc tụng,
ngợi khen hay tạ lỗi với Chúa. Tâm tình này HV diễn tả bằng lời hay cử chỉ hoặc
một hoạt động như: viết lời nguyện, vẽ hay tô màu bức tranh…
– Làm cho HV sáng lòng ______ mở
lòng (healing) – nhận ra tình yêu thương của Chúa. Dâng lời tạ ơn,
chúc tụng, ngợi khen
c. Hiện tại hóa sứ điệp Lời Chúa
Tâm tình tạ ơn, chúc tụng, ngợi khen hay tạ lỗi với
Chúa cần được diễn tả cụ thể trong đời sống hằng ngày. GLV gợi lại cho các em
thấy Thiên Chúa tốt lành và yêu thương ta, nên chúng ta cần diễn tả tâm tình tạ
ơn, chúc tụng, ngợi khen hay tạ lỗi với Chúa bằng chính đời sống cụ thể hằng
ngày với những quyết tâm sống.
– Làm cho HV khao khát dấn thân ______ mở
tay (flex) – đáp lại tình yêu thương của Chúa bằng cử chỉ, hành động cụ
thể.
2. Dạy giáo lý theo hướng truyền giáo
Dạy giáo lý theo hướng truyền giáo không chỉ dừng lại
ở việc dạy giáo lý, vì buổi gặp gỡ giáo lý mới là loan báo mầu nhiệm Đức Kitô,
nhưng mầu nhiệm Đức Kitô cần phải được cử hành và sống. Thế nên GLV cần chuẩn bị
và đầu tư cho việc dạy giáo lý của mình bằng chính đời sống cầu nguyện, chuẩn bị
tri thức trước khi dạy.
a. Trước khi dạy
GLV cần biết nội dung mình sẽ dạy ít nhất trước một
tuần để cưu mang bài giáo lý ấy trong đời sống cầu nguyện, làm kinh nghiệm với
Chúa về điều mình sẽ dạy trong đời sống thường nhật. Soạn giáo án, chuẩn bị
giáo cụ trực quan, liên kết nội dung bài với đời sống Giáo hội, sinh hoạt giáo
xứ; với mùa mạnh của năm phụng vụ; với chủ đề năm học giáo lý. Cần có chương
trình, kế hoạch và các sinh hoạt cụ thể của năm học giáo lý hay theo mùa mạnh của
năm phụng vụ.
GLV cần biết tên, biết rõ bối cảnh của học sinh,
hoàn cảnh gia đình, học lực của từng em, cưu mang các em trong lời cầu nguyện của
mình cũng như đời sống thường nhật để đồng hành với các em trong tiến trình dạy
giáo lý.[40]
b. Trong khi dạy
Học nơi Chúa Giêsu, vị Thầy và Nhà Sư Phạm tuyệt vời.
GLV dạy giáo lý bằng cách nối kết giữa sư phạm Thiên Chúa, sư phạm của Giáo hội
và sư phạm đức tin, cùng với kinh nghiệm sống đức tin của mình.
GLV cần cởi mở đón tiếp HV cách ân cần, thân thiện,
gần gũi, có tương quan ấm áp để HV cảm nhận được bầu khí gia đình của buổi gặp
gỡ giáo lý hơn là lớp giáo lý và học bài giáo lý. Học viên là chủ thể, nên GLV
dùng phương pháp đối thoại, truy vấn và đồng hành với các em. Việc đầu tiên GLV
phải làm là cho HV cảm nhận được yêu thương. Từ đó GLV dẫn dắt các em đi vào mầu
nhiệm của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu.
Buổi gặp gỡ giáo lý phải đặt Chúa Giêsu làm trung
tâm điểm của mầu nhiệm và lịch sử cứu độ (quy Kitô). Đặt Lời Chúa là nền tảng
là linh hồn của buổi gặp gỡ để Lời Chúa sẽ soi sáng cho nội dung giáo lý. Nội
dung giáo lý trình bày ngắn gọn, không từ chương, không giáo điều, quan trọng
là cho HV thời gian trải nghiệm gặp gỡ Chúa, được Chúa biến đổi và thôi thúc HV
đáp lại ngay trong bước cầu nguyện của giờ giáo lý, còn cụ thể bằng chính đời sống
với những quyết tâm, ý lực sống trong suốt tuần.[41]
c. Sau khi dạy
Dạy giáo lý theo hướng truyền giáo, GLV được mời gọi
dạy giáo lý theo mẫu thức “Dự tòng” tức là việc dạy giáo lý còn thêm việc đồng
hành với HV trong từng giai đoạn của tiến trình: trước, trong và sau khi học
giáo lý và lãnh nhận bí tích. GLV vẫn đồng hành trong suốt hành trình đời sống
đức tin của người thụ huấn.
GLV không chỉ giúp cho HV khai tâm vào đời sống đức
tin qua việc dạy giáo lý, lãnh nhận các bí tích mà còn đồng hành dẫn dắt HV vào
đời sống sinh hoạt với cộng đoàn phụng vụ nơi giáo xứ và đồng hành cách thức
nào đó trong môi trường học đường và gia đình, xóm đạo.
Ngoài ra, GLV cần giúp cho các em không chỉ xác tín
niềm tin của mình vào Thiên Chúa qua việc nắm nội dung giáo lý mà cần tuyên
xưng mầu nhiệm ấy cụ thể qua hành động, siêng năng đi học giáo lý và tham dự
thánh lễ vì lòng yêu mến; sống bác ái, có lòng thương cảm với tha nhân. Làm sao
để học viên được Chúa biến đổi trở nên tốt hơn, là người Kitô hữu tốt và người
công dân lương thiện. HV sẽ trở thành môn đệ truyền giáo của Chúa Giêsu khi biết
lắng nghe Lời Chúa, sống những điều Chúa dạy, biết làm tông đồ giữa các bạn.[42]
Hơn thế nữa, tài liệu Hướng dẫn việc dạy
giáo lý (2020) mời gọi chúng ta biết dùng những ngôn ngữ mới để dạy
giáo lý là ngôn ngữ kể chuyện, vì GLV là người lưu giữ ký ức về Thiên Chúa;
dùng ngôn ngữ của nghệ thuật để giúp cho học viên qua giờ giáo lý thưởng thức
cái đẹp của chân lý; Ngôn ngữ sau cùng là công cụ kỹ thuật số, vì HV giáo lý của
chúng ta là “con đẻ” của thời đại kỹ thuật số, nên GLV cần có kiến thức cũng
như phương pháp để làm cho giờ giáo lý thêm sinh động và hấp dẫn hơn.
LỜI KẾT
“Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng!” (1
Cr 9,16) Lời này chạm vào sâu thẳm cõi lòng, thôi thúc mãnh liệt người môn
đệ truyền giáo của Chúa Giêsu, người nữ tu thừa sai của Giáo hội và hội dòng, cấp
bách phải loan báo Tin mừng, cách riêng qua việc dạy giáo lý.
Lời của Đức Thánh cha Lêô XIV nhắc nhở GLV trong
ngày Năm thánh Giáo lý viên vừa qua: GLV là người của Lời, một lời được
diễn tả bằng chính đời sống mình, nên GLV cần dạy giáo lý sao cho học viên khi
nghe thì tin, khi tin thì hy vọng và khi hy vọng thì yêu mến.
Điều này chất vấn người nữ tu khi là GLV, là người
đào tạo GLV, cần phải làm gì để thực thi sứ mệnh này ngay trong chính ơn gọi và
nhiệm vụ thừa sai mà Giáo hội, hội dòng trao phó?
Với 6 cơ sở Đào tạo Giáo lý viên cho đến nay, đã có
hơn 17 khóa đào tạo GLV của TGP Sài Gòn. Hằng tuần mỗi cơ sở vẫn tiếp tục hoạt
động, các giảng viên vẫn hăng say truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm, GLV từ
khắp nơi chăm chỉ đến học, con số học viên dao động từ trên 100 đến trên 300 học
viên mỗi cơ sở.
Tôi xác tín Thiên Chúa vẫn yêu thương chọn gọi và
tín nhiệm các nữ tu trong ơn gọi thừa sai, cách riêng lãnh vực huấn giáo.
Xin chúc tụng, ngợi khen và tạ ơn Chúa vì qua ơn gọi
thừa sai này, người nữ tu chúng tôi được cộng tác với Giáo hội địa phương, được
đóng góp hầu thể hiện đoàn sủng của hội dòng mình. Đồng thời đó cũng là thách đố
cho người nữ tu cần phải hoán cải lối mục vụ cục bộ của mình, cần uyển chuyển
hơn, cởi mở hơn với lối mục vụ của Giáo hội theo hướng “đi ra”. Bên cạnh đó,
cũng cần phải thay đổi não trạng, phương thức dạy giáo lý “quá truyền thống”,
chỉ Hỏi – Thưa hay từ chương, giáo điều, mà thay thế bằng phương thức dạy giáo
lý theo hướng truyền giáo như đã trình bày ở trên.
Ước chi qua mỗi buổi gặp gỡ giáo lý cả GLV và HV đều
gặp gỡ chính Chúa Giêsu và được Chúa Thánh Thần biến đổi, hầu cảm nghiệm được
tình yêu và lòng thương xót của Chúa Cha.
“Hãy luôn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Cha Trên Trời, để
tâm hồn mình thấm nhuần vẻ đẹp đó” (Thánh Gregorio Nysseno) (GLHTCG 2784).
Trích Bản
tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)
---------------
[1] Trong suốt bài viết này, khi trích nội dung trong các tài liệu của
Giáo hội từ “tu sĩ” được dùng để chỉ những người sống đời thánh hiến nói chung,
và từ “nữ tu” để diễn tả người nữ tu cách cá vị.
[2] Hội đồng Giáo hoàng Cổ võ tân Phúc âm hóa , Hướng dẫn việc
Dạy Giáo lý [Direttorio per la Catechesi] (Roma, 2020). Để thuận tiện,
trong các ghi chú trích dẫn sau đây xin viết tắt là DC, kèm theo số của tài liệu
trên.
[3] X. Gioan Phaolo II, Tông huấn Đời sống thánh hiến, Tp.
HCM, Tôn giáo, 2015, 8.
[4] X. DC 2020, số 119.
[5] X. Từ điển Công giáo, Ban Từ vựng Công giáo – Ủy ban
Giáo lý Đức tin, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội,
[6] X. Từ điển Chữ Nôm Công giáo (Phần Kinh đọc sớm tối
ngày thường và ngày Chúa nhật), Phân ban Từ vựng Hán Nôm Công giáo – Ủy ban
Giáo lý Đức tin, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nxb. Đồng Nai, 2025, tr.504.
[7] X. Thượng Tùng, “Dưới mái trường của đám trẻ di cư.” Người
Đô Thị, 06/5/2024.
[8] X. DC 2020, số 40.
[9] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Đời sống thánh hiến, Tp.
HCM, NXB Tôn giáo, 2015, 45.
[10] X. DC 2020, số 40; 42.
[11] X. DC 2020, số 4,40,50,68,89,132,135,288,303,334-335
[12] X. DC 2020, số 113.
[13] X. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông
huấn Niềm vui Tin mừng, 2013.
[14] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Đời sống thánh hiến, 48
- 49.
[15] X. Sđd.
[16] X. Gioan Phaolô II, Tông
huấn Đời sống thánh hiến, 15 – 19.
[17] X. DC 2020, s.119.
[18] X. DC 2020, số 417.
[19] X. DC 2020, số 120.
[20] X. Dòng Con Đức Mẹ Phù hộ, Hiến luật, khoản 2, 7.
[21] X. DC 2020, số 50.
[22] X. Thượng Tùng, “Dưới mái trường của đám trẻ di cư.”
[23] X. DC 2020, số 113.
[24] Đức Thánh cha Phanxicô, “Chứng tá là cách thế đầu tiên để loan báo
Tin mừng.” (22/3/2023). https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-ly-loan-bao-tin-mung-22-3-2023-bai-8-tong-huan-evangelii-nuntiandi-50495
[25] X. Đức Thánh cha Phanxicô, Là những nhà truyền giáo trong
thế giới hôm nay, Tp. HCM, NXB Tôn giáo, 2019.
[26] X. Maria Collino, Hồng ân của một lời xin vâng hoàn toàn
được hiến dâng, Maria Troncatti nhà truyền giáo trong khu rừng Amazzonica [La
grazia di un si’ tutto donato] (Elledici, 2012).
[27] X. DC 2020, số 49-50.
[28] X. DC 2020, số 417.
[29] X. Gioan Phaolô II, Hướng dẫn tổng quát việc dạy
giáo lý, Tp. HCM, NXB Phương Đông, 2008, số 237-247.
[30] X. Gioan Phaolô II, Hướng dẫn tổng quát việc dạy
giáo lý, số 82.
[31] X. HDTQDGL, số 85 – 86.
[32] X. DC 2020, số 135 – 150.
[33] X. Phanxicô, Tự sắc Antiquum Ministerium (LEV,
2021).
[34] X. DC 2020, số 135.
[35] X. DC 2020, số 58 – 60.
[36] X. DC 2020, số 68.
[37] X. DC 2020, số 194 – 195
[38] X. DC 2020, số 59.
[39] X. DC 2020, số 73 – 77.
[40] X. Trịnh Văn Thục, Dạy giáo lý trong thời đại mới, Nhà
xuất bản Đồng Nai 2024, 204 – 208.
[41] X. Sđd, 209 – 210.
[42] Trịnh Văn Thục, Dạy giáo lý trong thời đại mới, 211 –
212.