Chân phước Laura Vicuña
Phong Đáng kính ngày 05-06-1986
Phong Chân phước ngày 03-09-1988
Chân phước Laura Vicuña
sinh ngày 05 tháng 04 năm 1891 tại Chilê. Vì nhiều bi kịch ập đến, nên gia đình
ngài đã chuyển đến sinh sống tại Argentina. Tại đây, ngài đã vào học trong
trường nội trú do các nữ tu dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ điều hành. Sau khi học giáo
lý và nhận ra tình trạng tội lỗi của mẹ mình, ngài đã liên tục hy sinh và cầu
nguyện cho mẹ mình được ơn hoán cải. Trong các kỳ nghỉ khi trở về nhà, ngài
thường xuyên bị ngược đãi và bị đe doạ về đức trong sạch từ người cha dượng.
Ngài mong muốn mẹ ngài hoán cải và để đạt được điều đó, ngài không ngần ngại
dâng hiến mạng sống mình làm của lễ hy sinh. Ước nguyện đó của ngài đã được
Thiên Chúa nhậm lời. Ngài qua đời ngài 22 tháng 01 năm 1904 tại Junín de los
Andes (Argentina), điều đó đã làm cho mẹ của ngài hoán cải.
Tuổi thơ đầy cơ cực
Laura Vicuña tên chính thức là Laura del Carmen Vicuña,
sinh ngày 05 tháng 04 năm 1891 tại Santiago (Chilê) trong một gia đình quý tộc.
Cha ngài là quân nhân tên Joseph Dominic Vicuña và mẹ ngài là bà Mercedes Pino.
Cuộc nội chiến Chilê 1891 (hay còn gọi là cuộc Cách mạng 1891) giữa Tổng thống
và Quốc hội đã gây ra cho gia đình Laura nhiều đau khổ. Gia đình Laura buộc
phải chuyển đến tị nạn ở Temuco (Chilê), nhưng không lâu sau thì ông Joseph
Dominic Vicuña đột ngột qua đời, vì vậy bà Mercedes phải đưa hai cô con gái đến
sống tại Neuquén (Argentina). Để tìm cách cho con mình được học hành, bà
Mercedes đã đến làm việc ở Nhà nghỉ Quilquihué. Tại đây, ông chủ nhà nghỉ là
Manuel Mora – một chàng cao bồi Nam Mỹ tai tiếng – đã mua lại bà Mercedes bằng
việc cho 2 đứa con gái đi học. Nhờ vậy, Laura và em gái mình là Julia đã được
gửi đến học tại Trường “Đức Mẹ Phù Hộ” của các Nữ tu Con cái Đức Mẹ Phù Hộ Các
Giáo Hữu.
Những ngày tháng tốt lành
và những mong muốn thánh thiện.
Laura và Julia đến trường “Đức Mẹ Phù Hộ” ở Junín de Los
Andes vào ngày 21 tháng 01 năm 1900. Đối với Laura, tuy có chút lưu luyến khi
chia tay mẹ nhập học, nhưng cô luôn cảm thấy hạnh phúc khi ở đây. Cha
Crestanello đã nói rằng: “Cô ấy vui mừng khôn xiết” và chính Laura cũng đã nói
với ngài rằng cô không thể giải thích được lý do đó, nhưng cô quả quyết: “Con
thực sự rất hạnh phúc”. “Chúa Hài Đồng chắc chắn hài lòng với quyết định của mẹ
con.”, cô nói. Tại ngôi trường này, Laura đã được học hành, biết đọc, biết viết
và hơn hết là biết cầu nguyện. Cô là một học sinh gương mẫu: cầu nguyện, lắng
nghe các Sơ, sẵn sàng đồng hành, luôn vui vẻ và sẵn sàng hy sinh.
Điều đáng sợ nhất đối
với Laura là các kỳ nghỉ, vì vào những khoảng thời gian này, cô phải về lại
trang trại Quilquihué. Ngày 01 tháng 01 năm 1901, ngày kết thúc năm học, Laura
được trao giải thưởng vì những cố gắng của mình tại trường. Niềm vui của cô sớm
bị dập tắt vì ngày hôm đó cô phải về nhà với Mercedes. Các nữ tu, vì không biết
tình trạng thực sự của bà Mercedes, nên đã động viên Laura và nói rằng tại nhà
cô vẫn có thể cầu nguyện được vì Chúa luôn ở gần những ai kêu cầu Ngài. Laura
quay trở về Quilquihué trong nỗi sợ hãi và run rẩy. Mercedes khá lo lắng khi
đưa cô về, nhưng may mắn thay, kỳ nghỉ năm đó Mora đã tôn trọng Laura trong
cách hành xử. Ở nhà, mẹ của Laura buộc cô phải cầu nguyện trong bí mật. Khi
được thông báo quay lại trường học, Laura đã vui mừng khôn xiết.
Quay lại trường, các nữ
tu đã dạy Laura về giáo lý, khi một trong các Sơ đang giải thích về Bí tích Hôn
Nhân trong giờ dạy giáo lý, Laura bắt đầu hiểu ra tình trạng tội lỗi của mẹ
mình và ngất đi. Từ đó cô cũng hiểu ra vì sao trong những ngày nghỉ lễ ở trang
trại, mẹ cô bắt cô cầu nguyện trong bí mật và không bao giờ lãnh nhận các bí
tích. Từ đó, Laura đã tăng cường cầu nguyện cho sự hoán cải của mẹ mình.
Giống như Saviô, hình
mẫu lý tưởng của Laura, ngày trọng đại nhất là ngày mà cô được Rước Lễ Lần Đầu,
ngày 02 tháng 06 năm 1901. Vào tối trước ngày được Rước lễ, bà Mercedes đã đến
thăm Laura và tặng cô chiếc váy trắng do chính tay bà may. Vừa gặp bà, Laura đã
chạy đến ôm lấy bà và nói: “Mẹ! Ngày mai con sẽ Rước lễ lần đầu. Mẹ hãy tha thứ
cho những hành động hỗn xược của con. Nếu trước đây con nghịch ngợm thì từ nay,
con muốn trở thành niềm an ủi của mẹ. Con sẽ cầu nguyện cho mẹ.” và rồi cô oà
khóc. Ngày Rước lễ lần đầu của Laura được đánh dấu với 4 quyết tâm:
1.
Lạy Chúa, con muốn yêu
và phục vụ Chúa suốt đời nên con xin dâng Chúa trái tim, linh hồn, cả con người
con;
2.
Con thà chết chứ không
phạm tội xúc phạm đến Chúa, vì vậy xin sửa phạt con mỗi khi con có ý định rời
xa Ngài;
3.
Con sẽ làm tất cả những
gì có thể để Chúa được biết đến, đồng thời đền bù những xúc phạm mà Chúa phải
chịu, đặc biệt là từ những người trong gia đình con;
4.
Lạy Chúa, xin ban cho
con một cuộc sống yêu thương, hãm mình, hy sinh!
Vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, ngày 08 tháng 12 năm 1901,
Laura đã gia nhập Hội Con cái Đức Maria – một quá trình đào tạo các cô gái để
sau này sẽ tiếp bước các nữ tu dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ. Trong thánh lễ, từng cô
gái trong hội tiến lên trước Bàn Thờ để nhận dải ruy băng xanh và mề đay Đức Mẹ
– một dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ thuộc về Đức Trinh Nữ Maria và họ sẽ sống
trong tình bác ái nhiệt thành và thuần khiết như hoa huệ. Đến lượt Laura, khi
vị linh mục nói với cô: “Hãy nhận tấm ảnh và dải ruy băng này như một biểu
tượng đặc biệt của Đức Maria và một dấu hiệu bên ngoài cho thấy sự tận hiến của
con cho Người Mẹ dịu dàng này…” Trái tim Laura tràn ngập niềm vui!
Những đe doạ về sự trong
sạch.
Sau lễ Giáng sinh năm
1902, Mercedes đến để đưa các con gái của cô về nghỉ lễ. Laura vui mừng được
gặp lại mẹ mình những cô cũng lại cúi đầu lo sợ điều gì sắp xảy ra. Trước khi
rời đi, cô đã xin lời khuyên từ cha giải tội và xin lời cầu nguyện của Bề trên,
các thầy cô và các bạn đồng hành của cô. Cô ấy đã rất căng thẳng khi về đến
nhà. Manuel Mora, kiêu ngạo và độc tài, thô tục và độc ác, ngay cả với cô cũng
không hề dịu dàng. Cuộc sống của cô ở trang trại ngày càng trở nên khó khăn và
thảm hại hơn. Người ta đã nói rằng chủ sở hữu của Quilquihué không có ý định
kết hôn với Mercedes Pino. Một trong những người bạn đồng hành của Laura –
Julia Cifuentes, lưu ý rằng “Mora thích Laura và anh ấy đã giáo dục cô ấy để
cưới cô ấy.” Ngôi nhà của Manuel Mora, giàu có và tiện nghi, được bao quanh bởi
cây xanh và được sưởi ấm bởi ánh nắng mùa hè, lẽ ra sẽ là nơi nghỉ ngơi lý
tưởng cho Laura, nếu không có cái “ác quỷ” đó, mối nguy hiểm đó. Khi Mora buộc
ngựa vào cột và bước vào nhà theo lối hiên, nơi họ thường đi qua hàng ngày,
Laura sẽ nhanh chóng biến mất. Điều đó là làm Mora nổi điên và y thề: “Một ngày
nào đó…” Một ngày nọ, Mora ném Mercedes ra khỏi nhà vì mong muốn được ở một
mình với Laura. Tuy nhiên, Laura đã chống lại anh ta và tìm cách cứu mình khỏi
cuộc tấn công của anh ta. Mercedes đau lòng nhìn từ cửa sổ. Mora bị đánh bại và
lên kế hoạch cho một cuộc tấn công khác.
Vào một dịp lễ ở trang
trại Quilquihué, những người nông dân đem những con vật của mình đến và vui vẻ
ăn uống trò chơi và ca hát khi họ chờ đợi bữa tối và sau đó là một điệu nhảy
tuyệt vời vào ban đêm. Những người phụ nữ, mặc trang phục dự tiệc với những
chiếc khăn choàng rực rỡ trên vai, đến và đi với đồ giải khát và đồ uống.
Manuel Mora cố gắng thôi miên Laura, Laura nhìn thấy những ánh mắt xảo trá đang
dán chặt vào mình, đã cầu xin Đức Mẹ giúp đỡ mình. Bữa tối đã gần xong. Cuộc
khiêu vũ bắt đầu. Cô gái trẻ muốn nghỉ ngơi. Nhưng làm sao cô ấy có thể? Mora
bắt đầu lên sàn cho điệu nhảy đầu tiên. Laura nhìn thấy anh ta đang tiến về
phía cô. Cô thề trong lòng: “Chết nhưng không phạm tội”. Theo lời mời của anh,
cô kiên quyết và quyết định “Không!” Manuel Mora cảm thấy cơn giận của mình
dâng cao; tuy nhiên anh ấy vẫn kiên quyết nhấn mạnh. Cô gái lặp lại: “Không!”
Giọng điệu của anh trở nên mạnh mẽ hơn, anh xúc phạm cô. Mercedes lo lắng và
căng thẳng. Những gì có thể đã xảy ra? Rốt cuộc thì Mora chỉ yêu cầu một điệu
nhảy mà thôi và cô biết rõ kiểu khiêu vũ đó sẽ kết thúc như thế nào. Mora bây
giờ đã chuyển từ lời nói sang hành động. “À, vâng? Cô ấy không muốn nhảy phải
không, vị thánh nhỏ?”, Mora nói rồi anh ta túm lấy cánh tay cô và ném cô
vào bóng tối cùng với lũ chó. Sau khi đóng cửa lại, anh ta quay lại, đỏ mặt vì
giận dữ và nhục nhã, đi về phía Mercedes. Anh ta hét vào mặt cô và ra lệnh cho
cô ép con gái vào nhà, xin lỗi và khiêu vũ với anh ta. Mercedes đi ra ngoài và
cầu xin Laura quay trở lại. Cô cũng nói không với mẹ và ẩn náu giữa những tán
cây trong bóng tối. Trong nhà cuộc khiêu vũ vẫn tiếp tục và tất nhiên không có
Manuel Mora. Cánh cửa mở ra và Mercedes bước vào một mình. Mora đưa ra những
lời chỉ trích của mình đối với Mercedes. “Nó sẽ phải trả giá!”, nói rồi Mora
nắm lấy cổ tay Mercedes và kéo cô ra ngoài. Mercedes đã bị trói và bị Mora đánh
cho đến khi máu chảy ra. Để trả thù cho sự việc này, Mora đã từ chối trả học
phí cho Laura và yêu cầu Mercedes để cho Laura ở nhà làm người hầu trong trang
trại và người mẹ phản đối. Sơ Piai biết mọi chuyện và đề nghị giữ Laura miễn
phí trong 5 năm. Tháng 2 năm 1902, Laura trở lại trường học.
Tình yêu cao cả là hiến
mạng sống vì người mình yêu.
Quay trở lại trường học, Laura mong muốn được trở thành một
nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ, điều này đã không được chấp nhận vì hoàn cảnh tội lỗi
của mẹ cô. Cha Augusto Crestanello, cha Giải tội của cô, đã chấp thuận cho cô
khấn riêng và đã nhận lời khấn của cô. Về phần mình, cô tiếp tục hy sinh hãm
mình và cầu nguyện cho mẹ mình hoán cải. Trong một lần nhớ đến lời Chúa Giêsu:
“Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người dám thí mạng sống vì bạn
hữu mình”, Laura đã xin cha Giải tội cho phép mình được hiến dâng mạng sống để
đổi lấy sự hoán cải của người mẹ. Trong sự lưỡng lự, cha Crestanello vẫn chúc
lành cho ý nguyện đó của Laura.
Sức khoẻ của cô dần suy
sụp vì những hy sinh hãm mình và mẹ cô muốn cô phải trở về Quilquihué. Trong sự
tuyệt vọng và đau đớn, Laura nói lời ‘tạm biệt’ với các bề trên và các bạn đồng
hành của mình, sau đó cô xưng tội. Laura ở lại Quilquihue từ ngày 15 tháng 9
đến ngày 1 tháng 11. Mỗi ngày trôi qua đều giống nhau, chỉ có cô càng ngày càng
buồn vì thiếu vắng Thánh lễ, Rước lễ, lời khuyên của Cha Crestanello, sự đồng
hành thân thiện của các Sơ và các bạn. Mercedes buồn bã chứng kiến sự sa sút dần dần nhưng liên tục của con gái mình. Mercedes
đã lợi dụng việc Mora thích con gái mình để xin hắn được chuyển đến Junin cho
Laura được chữa bệnh đồng thời chăm sóc cho Julia.
Ở Junin Mercedes thuê
một căn nhà nhỏ có hai phòng. Nó được gọi là ranchito – một túp lều tồi tàn làm
bằng rơm và bùn dán vào nhau. Nó được chia làm hai, có nền đất nện, mái dột và
có cửa. Tuy nhiên, Laura lại cho rằng nó đẹp gấp ngàn lần trang trại Quilquihue
xinh đẹp vì ở đó, cô không phải ẩn mình khi cầu nguyện và cô còn được tham dự
Thánh lễ.
Tuy vậy, bệnh tình của
cô vẫn không thuyên giảm, đã thế cô còn chịu đau đớn khi Mora tìm đến. Khi hắn
chuẩn bị hành hạ cô, ai đó đã báo cho Felicinda Lagos – một người bạn của mẹ
cô. Mora yêu cầu được ở qua đêm với Laura, Laura, kiệt sức về thể chất nhưng
tinh thần mạnh mẽ, đứng dậy ngay lập tức, cô nói một cách kiên quyết với mẹ:
“Nếu ông ta ở lại đây, tôi sẽ vào trường học với các Sơ!”, với một nỗ lực lớn
lao, cô đứng lên và rời đi. Mora lao theo cô như một con thú hoang, tóm lấy
cánh tay cô và đánh đập cô một cách dã man nhằm cố gắng đưa cô trở lại. May mắn
thay Felicinda đã đến kịp lúc khiến hắn ta bỏ chạy. Laura trở về giường và từ
đó cô không còn đứng dậy được nữa. Khi biết được chuyện này, Cha Crestanello đã
nhờ các nam sinh giúp đưa cô đến nhà nguyện lần cuối. Tuy thấy con gái bị đánh
đạp tàn nhẫn như vậy, mắt của Mercedé vẫn chưa mở ra, mặc kệ lời van nài của
con gái, cô vẫn tiếp tục về với Mora và đến Ranchito để chăm sóc Laura.
Sức khoẻ của Laura ngày
một trầm trọng hơn nữa, cô hấp hối và lãnh nhận các Bí tích cuối cùng từ cha
Crestanello. Vào đêm cuối cùng đời mình, Laura đã nói với mẹ: “Mẹ ơi, con sắp
chết rồi! Từ lâu con đã cầu xin Chúa Giêsu cho con được hiến mạng sống con cho
mẹ, để mẹ trở về với Chúa… Mẹ ơi, trước khi con chết, liệu con có cơ hội nhìn
thấy mẹ ăn năn sám hối không?”. Mercedes trả lời trong đau khổ: “Mẹ sẽ làm
những gì con yêu cầu”. Với niềm vui này, Laura đã trút hơi thở cuối cùng vào
tối ngày 22 tháng 01 năm 1904, thi hài của cô được đặt trong nhà nguyện của các
Nữ tu Salêdiêng ở Bahía Blanca. Về phần Mercedes, sau đám tang con gái mình, bà
đã xưng tội và quay trở lại đời sống của một Kitô hữu.
Ngài được tuyên phong
Đấng Đáng Kính ngày 05 tháng 06 năm 1986; và được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
phong chân phước ngày 03 tháng 09 năm 1988 trên ngọn đồi Bát phúc của giới trẻ
ở Castelnuovo (Asti, Ý).
Chuyển ngữ: Pietro
Giuseppe Hoàng Khánh
Nguồn: (https://bom.so/D8vA8g)