Suy niệm Lời Chúa: Chúa nhật 24 Thường niên năm B
Qua Thập
giá đến Vinh quang
Lm. Gioan
B. Trần Văn Hào, SDB
Truyện Tây du ký kể lại
cuộc ra đi đầy gian nan của thầy Tam Tạng. Những gian nan thử thách xảy đến cho
vị thiền sư họ Đường không phải là những gai góc hiểm trở của một đoạn đường
dài, mà chính là những tật xấu hiện thân nơi ba đệ tử của ông: Tôn Ngộ Không,
Trư Bát giới và Sa Tăng. Ba người học trò này là biểu tượng của ba nết xấu mà vị
thiền sư phải vượt qua để đạt đến chính quả. Đó là lòng kiêu căng, sự đam mê nhục
dục và tính lười biếng.
Bài Tin mừng hôm nay
cũng phác vẽ cuộc hành trình theo Đức Giêsu của các môn đệ. Trong cuộc hành
trình này, điều kiện đầu tiên và cũng là điều kiện duy nhất Chúa Giêsu nêu ra
như một thách đố: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình
mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống
mình vì tôi và vì Tin mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Lời mời gọi ấy quả rất
nhức nhối và mang tính quyết liệt gửi trao đến tất cả chúng ta.
Per
Crucem (Qua Thập giá)
“Thập giá Đức Kitô là đối
tượng duy nhất của lòng trí chúng ta”. Đây là điều tâm niệm mà các nữ tu Mến Thánh
giá vẫn lập đi lập lại mỗi ngày. Nhưng không phải chỉ các nữ tu, mà tất cả mọi
Kitô hữu đều phải chọn và sống linh đạo Thập giá trong cuộc sống đức tin của
mình. Trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô cũng khẳng quyết với
xác tín sâu xa: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn
người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một đấng Kitô
bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân
ngoại coi là sự điên rồ” (1 Cor 1, 22). Thánh Marcô kể lại, khi Đức Giêsu khải
thị cho các học trò về viễn ảnh Thập giá, các tông đồ, đặc biệt Phêrô đã can
ngăn Ngài. Điều này dễ hiểu. Họ không thể chấp nhận một tương lai u ám như thế.
Một con người mà họ mơ tưởng sẽ làm thủ lãnh một vương quốc đầy oai hùng, tại
sao lại có thể bị giết chết và bị treo thân giống như một tên tội phạm? Phêrô
can ngăn là điều rất hợp lý theo suy luận tự nhiên. Vì vậy, Đức Giêsu quay lại
quở trách Phêrô: “Satan, lui lại đằng sau Thầy, vì tư tưởng của anh không phải
là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.
Trở lại với bối cảnh xã
hội ngày xưa, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn điều Chúa muốn nói. Trong xã hội Do thái thời
bấy giờ, dân chúng sống dưới sự đô hộ của đế quốc Rôma. Đế quốc dùng án tử hình
thập giá đối với các tội phạm ghê tởm nhất. Đây là hình phạt man rợ và kinh
hoàng mà đế quốc chỉ áp dụng cho cư dân ở các nước thuộc địa, còn công dân Rôma
thì được miễn. Tên tử tội sẽ bị treo lên cao, tay chân bị đóng chặt, ngực dãn
ra và rất khó thở. Phạm nhân vừa đau đớn, vừa phải chịu đói chịu khát, phơi nắng
phơi sương cho đến chết. Người nào khỏe nhất cũng chỉ cầm cự được hai ngày. Sau
khi chết, xác của họ không được chôn trong lòng đất, để mặt đất khỏi bị nhiễm uế
do tội lỗi ghê tởm của họ. Chim trời sẽ đến rúc rỉa thân xác ấy cho đến khi
không còn lại gì. Đối với người Do thái, đây là một sự sỉ nhục, đồng thời hình
phạt ấy cũng nói lên tính dã man và sự miệt thị của đế quốc đối với các nước
nhược tiểu.
Cũng tương tự như thế, Hy
Lạp ngày xưa có rất nhiều triết gia nổi tiếng như Socrates, Aristote, Diogène…
Người dân say mê triết học để tìm sự khôn ngoan cho cuộc sống mình. Họ chủ
trương phải sống cho thật ý nghĩa và giá trị. Cái chết thập giá của những phạm
nhân đối với họ quả là một sự điên rồ, vì nó kết thúc cuộc sống con người một
cách vô nghĩa. Cuộc sống của họ coi như bị vất bỏ hoàn toàn.
Đây là não trạng của
dân Do Thái và dân Hy Lạp thời Chúa Giêsu khi họ nhìn vào hình phạt khổ giá.
Nhưng Đức Giêsu đã tự nguyện chấp nhận cái chết xem ra vô lý tột độ như thế.
Ngài chết như một tên tử tội đốn mạt nhất bị xã hội ruồng bỏ và coi khinh. Ngài
đã đi xuống tận đáy bùn đen của xã hội, đón nhận cái chết man rợ nhất, nhục nhã
nhất và cũng bi thương nhất.
Vì thế, chẳng lạ gì
Phêrô đứng ra can ngăn Chúa ngay tức khắc theo phản xạ tự nhiên. Phêrô không hiểu,
đúng hơn ông chưa hiểu thế nào là mầu nhiệm Thập giá. Lời gọi mời của Chúa
Giêsu “Ai muốn theo tôi, phải bỏ mình vác Thập giá mình mà theo”, vừa mang tính
thách đố quyết liệt, vừa gợi mở một cuộc hành trình theo Chúa trong niềm tin
tuyệt đối, tức là ‘cuộc hành trình đi vào một vùng tối tăm đầy ánh sáng’ (tư tưởng của Thánh Grêgoriô thành Nyssê).
Ad
Lucem (Đến vinh quang)
Nhưng, cái chết trên Thập
giá của Đức Giêsu không phải là một dấu chấm kết tận, kết thúc cuộc sống 33 năm
dương thế của Ngài một cách vô nghĩa. Ngài là một con người rất con người, đã đi
qua cái chết, nhưng Ngài vẫn là một Thiên Chúa rất Thiên Chúa, Đấng hằng sống
và không bao giờ chết. Đức Giêsu đã chọn Thập giá để khai mở cho con người chân
trời ơn cứu độ qua sự phục sinh vinh thắng. Không có cái chết nào nhục nhã cho
bằng cái chết của một tên tử tội bị xã hội loại trừ. Không có cái chết nào bị
thương và tức tưởi cho bằng cái chết của một đấng hay thi ân, lại bị con người
phản bội và đối xử tàn khốc. Không có cái chết nào ai oán cho bằng cái chết của
Đấng Công chính lại bị xét xử cách bất công và quá phũ phàng. Đức Giêsu đã chết
trong cô đơn và bị ruồng bỏ hoàn toàn. Các học trò thân tín nhất cũng tháo chạy.
Ngay cả Chúa Cha dường như cũng hắt hủi, đến độ Ngài phải não lòng thốt lên: “Cha
ơi, sao Cha lại bỏ con?”
Nhưng Thập giá và mầu
nhiệm tự hủy chính là con đường dẫn đến sự sống. Nghịch lý của Thập giá mà Chúa
Giêsu gọi mời hôm nay được diễn bày nơi chính cái chết bi thương của Ngài: Qua sự
chết đến sự sống; qua bóng tối của tử thần, chúng ta mới có thể đi vào miền ánh
sáng phục sinh vinh quang. ‘Per Crucem ad Lucem’.
Nghịch lý của Thập giá
luôn là một mầu nhiệm khó hiểu. Chỉ khi Đức Giêsu từ cõi chết chỗi dậy, các học
trò của Ngài mới dần hiểu ra và sẵn sàng lao vào con đường xem ra rất tối tăm ấy.
Ánh vinh quang Phục sinh đã làm sáng lên chân trời đức tin mà trước kia vẫn còn
mù tối nơi tâm hồn các tông đồ. Hai môn đệ trên đường đi Emmaus đã tiếp cận trực
tiếp với Đấng sống lại và con mắt đức tin của họ đã mở toang. Ngay cả Tôma Dydimô
vẫn bị mang tiếng oan uổng là cứng tin, cũng đã hoàn toàn quy thuận khi Đức Giêsu
hiện đến. Ông không cần xỏ tay vào lỗ đinh, cũng chẳng cần sờ chạm đến vết đinh
nơi thân thể Chúa. Chính cặp mắt Đức Giêsu đã xoáy sâu vào tận tâm hồn ông, đem
đến cho ông một luồng sáng mới, thắp lên ngọn lửa đức tin nơi ông. Bấy giờ các
tông đồ mới hiểu ra cách tường tận những điều Chúa nói trong Tin mừng hôm nay:
“Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo tôi”.
In
hoc signo (Cứ dấu
này)
Vào năm 326, Vua
Constantinô, hoàng đế Rôma đã có một thị kiến nhìn thấy hình Thập giá trên bầu
trời với hàng chữ ‘In hoc signo vinceris’ (cứ
dấu này ngươi sẽ chiến thắng). Ông đã chiến thắng và đã tin. Vua
Constantinô đã trở thành một tín hữu, bắt đầu giai đoạn hoàng kim của Kitô giáo
ở Âu châu. Cũng vậy, Thánh giá chính là dấu hiệu để người ta có thể nhận ra những
ai thuộc về Đức Giêsu. Người ta thấy hình tượng Thánh giá ở khắp nơi, trên nóc
các nhà thờ, giữa gian cung thánh, trên bàn thờ mỗi gia đình, trên các phần mộ
của người công giáo tại các nghĩa trang…, bởi vì cứ dấu này (in hoc signo), người
ta nhận ra ai là môn đệ của Đức Giêsu một cách đích thật.
Tuy nhiên, khi nói về Thập
giá, chúng ta thường nghĩ ngay đến những đau khổ. Không phải đơn thuần chỉ như
thế. Thánh giá của Chúa Giêsu trước hết và trên hết là dấu chỉ của tình yêu. ‘In
hoc signo’, cứ dấu này người ta sẽ khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa được biểu
tỏ tuyệt vời như thế nào. Thập giá Đức Kitô chính là câu định nghĩa tròn đầy nhất
về tình yêu Thiên Chúa dành trao cho con người. Qua Thập giá, chúng ta học được
bài học rất căn bản về tình yêu Thiên Chúa ngỏ trao. Tình yêu ấy đến thật nhiều
xuyên qua đau khổ. Thánh Têrêsa Hài đồng đã học được bài học căn bản này. Khi nằm
trên giường bệnh, Chị thánh luôn mỉm cười, để qua những đau khổ nhỏ bé, chị dần
tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu cao cả cùng với Chúa Giêsu. Một lần mẹ Agnès hỏi
chị: “Sao sáng nay em vui vẻ thế?”. Têrêsa trả lời “Em rất vui vì hôm nay em được
lãnh nhận 2 sự khó nho nhỏ để yêu Chúa Giêsu. Không có gì vui sướng cho bằng đón
nhận những sự khó cỏn con như vậy”. Ngài nói tiếp: “Những khổ đau ấy chẳng dữ dằn
gì đâu. Em chịu được tới mức nào, bạn tình Giêsu gởi đến cho em tới mức đó, em
chẳng bao giờ lo lắng về điều ấy cả”. Cuộc đời của Chị thánh là cuộc đời chứa
chan niềm vui và an bình, tựa như những cánh hồng lan tỏa mùi hương êm dịu,
nhưng ẩn sâu bên dưới đầy những gai nhọn của Thập giá. Thập giá Chúa Giêsu
chính là dấu chứng (signum) bày tỏ tình yêu và quyền lực vô song của Thiên Chúa.
Vì thế, Thánh nữ đã tóm kết cuộc đời mình qua một định thức đơn giản: “Ơn gọi của
tôi chính là tình yêu. Tình yêu là tất cả. Ơn gọi của tôi là sống sung mãn tình
yêu nơi Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu”.
Kết
luận: Những con chim ẩn mình chờ chết
Đây là tên bộ phim được
trình chiếu rộng rãi trên đài truyền hình thành phố vào những năm thập niên 90.
Ở đây, chúng ta không đề cập đến nội dung hư cấu của bộ phim hay đích nhắm mà soạn
giả muốn nói đến. Chỉ xin vay mượn giai thoại về loài chim gai (thornbird), được
bộ phim chọn làm tựa đề, để quy chiếu và tóm kết sứ điệp Lời Chúa hôm nay.
Có một loài chim hót rất
hay và chỉ hót duy nhất một lần trong đời. Trước khi chết, theo bản năng, nó
bay vút lên cao, lượn mình vi vu giữa bầu trời mênh mông rồi lao nhanh xuống đất,
cắm đầu vào một bụi gai và giẫy chết ở đó. Gai nhọn đâm nát khiến máu chảy tung
tóe, thân xác nó tả tơi và dập nát. Trong đau đớn, nó sẽ cất lên tiếng hót, một
giọng hót vừa ai oán vừa hùng vĩ, vừa cao vút nhẹ nhàng, vừa trầm buồn đến não
nuột. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời, nó hót vang. Giọng
hót ấy thật tuyệt vời và thánh thót. Đó chính là tiếng hót của ‘những con chim ẩn
mình chờ chết’ (les oiseaux se cachent pour mourir). Chúa Giêsu nói với chúng
ta hôm nay:“Ai yêu sự sống mình sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống vì Thầy và vì
Tin mừng sẽ cứu được mạng sống ấy”. Con đường theo Đức Kitô trên hành trình Thập
giá cũng chính là con đường dẫn đến cái chết. Nhưng đây không phải là cái chết
vô nghĩa, mà xuyên qua cái chết ấy chúng ta sẽ hát lên một bản hùng ca tuyệt vời,
một bài ca chiến thắng khải hoàn vang dội. Đó chính là bài ca mà Đức Giêsu, thầy
của chúng ta đã cất lên qua sự Phục sinh vinh thắng của Ngài. Có hát lên bài ca
này, chúng ta mới cảm thấu được tình yêu Thiên Chúa, và tiếp tục dấn bước theo
lời gọi mời của Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay.