Suy niệm Lời Chúa: Lễ Mình Và Máu Thánh Chúa KiTô
NÊN MỘT TRONG MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ
(Đnl 8:2-3.14b-16a; 1 Cr 10:16-17; Ga 6:51-58)
Lm.
Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Một
trong những điều đáng buồn xảy ra cho con người là mất trí nhớ. Kinh
nghiệm sống dạy rằng ai trong chúng ta cũng cảm thấy buồn nếu không được nhớ
đến, nhất là bởi những người mình yêu mến. Trong truyền thống Kinh Thánh, nhớ
[và được nhớ] là một trong những yếu tố quan trọng trong tương quan với Thiên
Chúa. Dân Israel thường được nhắc nhở hãy nhớ lại những kỳ công Thiên Chúa đã
thực hiện cho họ (x. Bns 16:12; Tv 105:5). Đây chính là điều Môsê nhắc cho con
cái Israel sau khi họ ra khỏi đất nô lệ Ai cập để vào đất hứa. Nếu lưu ý kỹ cấu trúc của bài
đọc 1, chúng ta nhận ra rằng lời dặn của Môsê được trình bày theo hai cách thức
khác nhau: cách tích cực – “hãy nhớ,” và tiêu cực – “đừng quên.” Trong cách nói
tích cực chúng ta nghe: “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa,
Thiên Chúa của anh em, đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để
bắt anh em phải cùng cực; như vậy Người thử thách anh em cho biết lòng dạ anh
em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không. Người đã bắt anh
em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn manna là của ăn anh em chưa
từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận
biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời
miệng Đức Chúa phán ra” (Đnl 8:2-3). Trong những lời
này, Môsê nhắc nhở dân Israel “hãy nhớ” – (1) con đường Chúa đã dẫn họ đi, (2)
những thử thách họ đối diện, (3) những của ăn Đức Chúa ban cho họ về thể xác
(manna) và tinh thần (lời của Đức Chúa). Trong cách nói tiêu cực, chúng ta đọc
thấy: “Anh em đừng
quên Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng đã đưa anh em ra khỏi đất Aicập,
khỏi cảnh nô lệ. Người đã dẫn anh em đi trong sa mạc mênh mông khủng
khiếp, đầy rắn lửa và bọ cạp, trong miền đất khô cằn không giọt nước. Người đã
khiến nước từ tảng đá cứng nhất chảy ra cho anh em uống. Trong sa mạc,
Người đã cho anh em ăn manna, thức ăn mà cha ông anh em chưa từng biết” (Đnl 8:14b-16b). Chúng ta thấy, Môsê nói dân chúng
“đừng quên” – Đức Chúa, Đấng (1) đưa Israelra khỏi Ai cập [dẫn họ trên hành
trình; (2) Đấng thử thách họ; và (3) Đấng ban cho họ những thức ăn cần thiết
cho hành trình. Trong những chi tiết trên, chúng ta tìm thấy ngôn ngữ được sử
dụng trong Bí Tích Thánh Thể, đó là “nhớ” đến của ăn Thiên Chúa ban để nuôi
dưỡng dân chúng trên đường tiến về đất hứa [thiên đàng]. Những người có khả
năng “nhớ” những kỳ công, những việc tốt người khác làm cho mình mới có khả
năng dâng lời tạ ơn. Như chúng ta biết, theo nguyên ngữ, Thánh Thể chính là “tạ
ơn.” Chúng ta chỉ có thể tạ ơn nếu mỗi khi đến với Thánh Thể, chúng ta nhớ đến
những ơn lành Thiên Chúa ban cho chúng ta.
Trong
bài đọc 2, Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Côrintô về sự hiệp nhất mà Thánh
Thể mang lại: “Thưa anh em,
khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào
Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân
Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng
một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10:16-17). Chúng ta thấy,
Thánh Phaolô sử dụng ngôn ngữ “tạ ơn” để nói về việc dự phần vào Mình Máu Thánh
Chúa Kitô. Bên cạnh đó, thánh nhân còn nói đến hiệu quả của việc lãnh nhận Mình
và Máu Chúa Kitô, đó là tất cả được “dự phần” hay đúng hơn là “nên một” trong
Thân Thể Đức Kitô. Nói cách cụ thể hơn, mỗi khi đến với Bí Tích Thánh Thể,
chúng ta nên một với nhau. Sẽ không còn chia rẽ, ghen tỵ hoặc những điều làm
chúng ta xa cách nhau ngự trị trong lòng mỗi người và trong cộng đoàn [hội
đoàn]. Như vậy, những ai đến với Thánh Thể mà còn sống xa cách, không đón nhận,
tha thứ và yêu thương anh chị em như chính thân mình là người đã làm cho Thánh
Thể trở nên vô hiệu trong cuộc đời của họ.
Trong
bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định thịt của Ngài chính là bánh hằng
sống từ trời xuống. Theo các học giả Kinh Thánh, trích đoạn này đã được thêm
vào trong giai đoạn chỉnh sửa cuối cùng của Tin Mừng Thánh Gioan. Điều này được
nhận ra trong “điệp khúc” “Tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.” Để hiểu
hơn ý nghĩa của trình thuật hôm nay, chúng ta cần lưu ý những điểm sau trong
cấu trúc của trình thuật. Câu “Tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” xuất
hiện lại trong câu 54. Câu 57b và 58b nói về sự sống trong thì tương lai, trong
khi đó câu 54a và 56b sử dụng ngôn ngữ của thời cánh chung được hiện thực hoá.
Câu 56 sử dụng thuật ngữ “ở lại,” thuật ngữ được sử dụng trong trình thuật từ
biệt của Chúa Giêsu (x. Ga 15:4-5; 17:21,23).
Trình
thuật bắt đầu với lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh
này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để
cho thế gian được sống” (Ga 6:51). Trong
những lời này, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là ai [“bắnh hằng sống từ trời
xuống”], hiệu quả của bánh [“được sống muôn đời”], bánh từ trời là gì [“chính
là thịt của Ngài”], hiệu quả của thịt [“thế gian được sống”]. Trong bốn vế này,
chúng ta thấy có một sự tương đồng như sau: Bánh hằng sống – thịt Chúa Giêsu và
sống muôn đời = thế gian được sống. Điều cần lưu ý ở đây chính là hiệu quả của
việc ăn bánh hằng sống/thịt Chúa Giêsu là được sống muôn đời. Hay nói cách
khác, bánh hằng sống/thịt Chúa Giêsu mang lại sự sống muôn đời cho thế gian. Chúng
ta cũng đến với Chúa Giêsu mỗi ngày hoặc mỗi Chúa Nhật để đón nhận Ngài, chúng
ta có ý thức về điều này không? Mội khi đón nhận Chúa Giêsu trong bí tích Thánh
Thể, chúng ta được đưa vào trong sự sống vĩnh cửu, đưa vào trong chính sự sống
của Thiên Chúa. Điều này mời gọi chúng ta từ bỏ những gì ngăn cản sự sống này
lớn lên, trưởng thành và sinh hoa kết quả trong đời sống thường ngày của chúng
ta.
Khi
nghe Chúa Giêsu nói bánh hằng sống chính là thịt Ngài, người Do Thái nghĩ đến
việc “ăn thịt người,” điều không thể chấp nhận: “Người Dothái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ
nói: ‘Làm sao ông
này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?’” (Ga 6:52). Chúa
Giêsu sử dụng ngôn ngữ hình tượng [hay đúng hơn “bí tích”] ở đây, nhưng người
Do Thái lại hiểu theo nghĩa mặt chữ. Như chúng ta biết, trong Tin Mừng Thánh
Gioan, sự hiểu lầm luôn xảy ra giữa thính giả của Chúa Giêsu với những lời Ngài
nói. Cũng như những lần trước [với Nicôđêmô, với người phụ nữ Samaria], Chúa
Giêsu giải thích cho thính giả của Ngài về ý nghĩa của những điều Ngài muốn
nói. Trong trình thuật này, Chúa Giêsu giải thích cho thính giả của mình như
sau: “Thật, tôi
bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông
không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn
đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là
của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại
trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6:53-56). Các học giả Kinh
Thánh cho rằng những câu này mở rộng câu nói nguyên thuỷ của Chúa Giêsu trong
câu 51b về bánh hằng sống, đó là thịt Chúa Giêsu với lối diễn tả “thịt và máu.”
Nếu lưu ý kỹ, chúng ta thấy các câu đều đi theo cùng kiễu mẫu,
đó là, trước tiên quy chiếu về việc ăn thịt và uống máu. Việc Chúa Giêsu khẳng
định về thịt và máu là thức ăn và thức uống “thật” gợi lại cho chúng ta điều
Ngài nói trong câu 35. Những câu trên muốn khẳng định rằng điều cần thiết là
phải “ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu” để được cứu độ. Điều này được diễn tả qua
những hình thức sau: (1) có sự sống nơi mình (câu 53); (2) có sự sống muôn đời
(và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết trong câu 54); (3) ở lại
trong tôi và tôi ở lại trong người ấy (câu 56). Điều đáng để chúng ta lưu ý
trong những câu trên là lời mời gọi “ở lại trong Ngài” của Chúa Giêsu. Chi tiết
này phản ánh cơn khủng hoảng tách rời khỏi Chúa Giêsu [chối đạo] xảy ra trong
cộng đoàn Thánh Gioan. Trong chương 15, Thánh Gioan nói về sự cần thiết cho
người môn đệ ở lại với Chúa Giêsu, như cành nho dính liền với thân nho [nho
cũng là biểu tượng của Thánh Thể]. Những chi tiết trên nhắc nhở chúng ta về sự
gắn bó của mình với Chúa Giêsu. Mỗi lần đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh
Thể, chúng ta được nhắc nhở về sự “hiện diện hỗ tương” giữa Chúa Giêsu với
chúng ta: Chúa Giêsu ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Chúa Giêsu. Nếu Chúa
Giêsu ở trong chúng ta, sao chúng ta lại sống một đời sống ích kỷ, ghen tỵ và
loại trừ anh chị em mình? Nếu chúng ta không sống yêu thương và tha thứ, chúng
ta không ở lại trong Chúa Giêsu và không để Chúa Giêsu ở lại trong chúng ta.
Bài
Tin Mừng kết với việc Chúa Giêsu dùng mối tương quan giữa Chúa Cha với Ngài để
nói đến sự gắn bó giữa người môn đệ với Ngài: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi
sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như
vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn,
và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:57-58). Trong những lời trên, chúng ta thấy
lối diễn tả khác thường trong cụm từ “Chúa Cha là Đấng hằng sống.” Lối diễn tả
này có thể được hình thành dựa trên lối suy diễn từ cụm từ “bánh hằng sống”
trong câu 51. Người đọc biết rằng Chúa Cha sai Chúa con đến để mang lại sự sống
(x. Ga 3:16-17), và rằng sự sống Người Con có là chính sự sống của Chúa Cha ban
cho Chúa Con (x. Ga 5:26). Trong những lời trên, Chúa Giêsu mở rộng mối tương
quan giữa Chúa Cha và Chúa Con đến những người tin, là những người chia sẻ
trong Thánh Thể. Như vậy, những người đón nhận Chúa Giêsu trong bí tích Thánh
Thể sẽ nhận được chính sự sống mà Chúa Giêsu nhận từ Chúa Cha. Thật là một ân
phúc tuyệt diệu mà mỗi người chúng ta được ban cho. Khi hiểu được điều này,
chúng ta phải đến với Thánh Thể với sự kinh ngạc đầy yêu thương và tôn thờ vì
một Thiên Chúa uy quyền trở nên thật nhỏ bé để trở nên của ăn mang lại cho
chúng ta sự sống đời đời.