Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 18 Thường niên B
Tấm bánh được bẻ ra
Lm.
Gioan B. Trần Văn Hào, SDB
Chúa Nhật tuần trước, chúng ta được mời gọi
chiêm ngắm Đức Giê-su, vị mục tử nhân lành giàu lòng yêu thương con người đã
nhân bánh và cá lên gấp ngàn lần để cho 5000 người ăn no nê. Phép lạ đã xảy ra.
Nhưng chắc chắn Đức Giê-su không phải là một kinh tế gia, cũng không phải là một
chuyên viên đi làm công tác từ thiện xã hội, hoặc đi xóa đói giảm nghèo. Phép lạ
Đức Giê-su thực hiện là dấu chỉ khải thị một chân lý sâu xa hơn. Ngài chính là
tấm bánh được bẻ ra để cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Đức Giê-su không
đóng vai một nhà từ thiện giầu hảo tâm, giúp con người vượt qua cái đói vật chất.
Ngài chính là Đấng Cứu Độ, là Bánh Trường Sinh, Đấng đến trần gian để cho chúng
ta được sống. Đó chính là nội dung bài diễn từ về bánh mà Thánh Gioan trình bày
cho chúng ta trong chương 6, bắt đầu từ Chúa Nhật hôm nay.
Tấm
bánh thần thiêng
Năm 1868, một cô gái người Bỉ yếu ớt được
in năm dấu thánh. Cô ta tên là Louis Lateau. Từ đó trở đi, cô không còn có thể
ăn uống được nữa. Trong bảy năm trời, cô ta sống nhờ lương thực duy nhất là rước
Mình Thánh Chúa mỗi ngày. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với chị Têrêsa Newman
và cô Matta Robin, người Sáng lập Tu hội Bác Ái. Những điều kỳ diệu đó phần nào
chứng minh cho lời Chúa nói hôm nay: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh.
Hãy ra công làm việc không phải vì của ăn mau hư nát nhưng để có lương thực
mang lại sự sống trường sinh, là lương thực mà Con Người sẽ ban cho các ngươi.”
(Ga 6, 27). Nhưng, lương thực Chúa nói ở đây là lương thực gì?
Chúa Giê-su đã công bố: “ Tôi là Bánh Trường
Sinh”. Để có tấm bánh, dù là bánh bột mì hay bột gạo, trước hết phải có hạt. Hạt
được gieo trồng trong ruộng, rồi phải có người tưới nước, làm cỏ, bón phân. Hạt
lúa cần ánh nắng để được chín vàng. Kế đến phải có người gặt, đem về xay thành
bột. Bột được nhào nặn thành bánh và bánh phải được nung chín trong lò. Đức
Giê-su, tấm bánh được Thiên Chúa ban tặng, cũng trải qua những công đoạn tương
tự như thế. Ngài đã được cấy vào mảnh ruộng trần gian, nơi cung lòng Đức Trinh
Nữ Maria. Ngài cũng đã được lớn lên trong ánh nắng mặt trời vùng quê Nazareth,
đã vươn lên giữa đám cỏ lùng trong thửa ruộng trần gian. Ngài đã trưởng thành,
đã chín vàng dưới ánh nắng kỳ diệu của Thần Khí. Sau cùng, Ngài đã được gặt, bị
nghiền nát phơi thây trên Thập Giá, và được nướng chín trong cuộc khổ nạn. Ngài
đã trở nên Tấm Bánh, được bẻ ra và hiến trao cho nhân loại. Tấm bánh Giê-su được
hiến tặng cho ta chính là tấm bánh được hiển thị trong mầu nhiệm Thập Giá, nơi
kết tụ đỉnh cao của Tình yêu mà Thiên Chúa đã tỏ bày.
Văn hào Fortry đã viết: “ Dầu bầu trời có
tối đen đến mấy đi nữa, thì Thánh Giá vẫn là dấu hiệu cao cả nhất và tuyệt vời
nhất của tình yêu”. Cha Thánh Gioan Maria Vianney cũng diễn tả một xác tín
tương tự: “ Chúng ta phải đeo bám vào Thập Giá Chúa như một kẻ hà tiện bám víu
vào tiền bạc, vì Thánh Giá là chóp đỉnh của tình yêu, là lương thực trường
sinh, là nguồn mạch cứu độ”.
Chúa Giê-su đã nói: “ Ai tin vào tôi sẽ được
sống đời đời”. Tin vào Đức Giê-su, Đấng bị phân thây trên Thập Giá, chính là tiếp
nhận Ngài, mở lòng ra để ‘ăn’ Ngài, vì Ngài chính là tấm bánh cứu độ được bẻ ra
và được phân phát nhưng không cho tất cả mọi người.
Muốn trở nên lương thực nuôi sống con người,
tấm bánh phải được nghiền nát và bị phân hủy để đi vào thịt máu, đem lại cho
chúng ta sự sống. Đây là định luật về Bánh, đã được chính Đức Giê-su biểu tỏ
qua cái chết trên Thập Giá. Định luật đó cũng được Chúa Giê-su chuyển giao để
chúng ta sống và thực hành: “ Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá hằng
ngày theo tôi”.
Sống định
luật về bánh.
Văn hào Leon Tolstoi viết một tiểu thuyết
ngắn với tựa đề: “ Con người chúng ra sống bằng gì ?” Tác giả nêu ra câu hỏi và
trả lời ngay sau đó “ Con người chúng ta sống bằng tình yêu”. Tần Thủy Hoàng
ngày xưa đã cho nhiều người tài giỏi đi khắp nơi lùng sục những thang thuốc
quý, hay những thực phẩm cao lương mỹ vị để được sống mãi, nhưng ông ta đã chết,
cũng như tất cả mọi người khác. Dùng đồ ăn thức uống hằng ngày cũng chỉ có thể vỗ
béo và tẩm bổ thân xác hầu kéo dài thêm thời gian sống, nhưng cuối cùng ai ai
cũng phải chết. Trái lại, sống bằng tình yêu, con người sẽ không bao giờ chết.
Thánh Gioan trong thơ thứ nhất, đã định nghĩa “Thiên Chúa là tình yêu”. Thiên
Chúa là Đấng Hằng Sống, nên những ai đi vào quỹ đạo tình yêu với Thiên Chúa và
sống sung mãn huyền nhiệm yêu thương, người đó không bao giờ chết. Cũng vậy,
chính Đức Giê-su đã khẳng định trong bài Tin Mừng hôm nay : “Tôi là bánh đem lại
sự sống cho trần gian (Ga 6, 33-35). Ai ăn bánh này sẽ không còn đói. Ai tin
tôi sẽ được sống đời đời”. Định luật về bánh phản chiếu qua mầu nhiệm Thập Giá
luôn hàm ngậm một nghịch lý. Hạt lúa được gieo vào lòng đất phải thối đi mới có
thể nảy mầm và đơm bông kết trái. Tấm bánh phải được nhai nát, được tiêu hủy
trong dạ dày mới có thể chuyển hóa thành máu và thịt. Cũng vậy, chúng ta phải
đi qua cái chết mới đạt được sự sống, phải đi qua Thập Giá mới có thể đón nhận
vinh quang. Per Crucem ad Lucem. Per
angusta ad augusta.
Con đường theo Đức Ki-tô, tấm bánh được bẻ
ra, không phải là con đường thẳng tắp và phẳng lặng. Lối bước Thập Giá không phải
là nẻo đường được đan kết bằng những bông hoa và nụ cười. Đó chính là con đường
gập ghềnh đầy sỏi đá gai chông, là con đường đưa dẫn đến núi sọ và huyệt đá,
hàm ngậm mầu nhiệm tự hủy để cùng chịu đóng đanh và cùng chết với Chúa Giê-su.
(Mt 16, 24-25). Muốn trở thành môn đệ Ngài, chúng ta cũng phải trở nên tấm bánh
được nghiền nát, được bẻ ra để phân chia cho mọi người.
Ví dụ
cụ thể.
Một ngày cuối năm 1965, trên một chuyến
bay từ Rôma đến Mỹ mang theo một số Giám Mục tham dự công đồng Vaticanô II trở
về, có một tiếp viên hàng không khá xinh đẹp. Cô ta ân cần phục vụ hành khách,
nhưng hôm đó cô tỏ vẻ hơi khó chịu vì có một cặp mắt cứ nhìn cô đăm đăm mỗi khi
cô xuất hiện. Cô khá bực mình và cũng hơi bối rối, vì đó lại là cặp mắt của một
vị Giám Mục đáng kính và khá nổi tiếng lúc bấy giờ : Đức Cha Fulton Sheen. Khi
phi cơ đáp xuống, Đức Cha là người sau cùng rời máy bay. Ngài tiến lại gần cô
tiếp viên và nói: “ Thưa cô, cô rất xinh đẹp. Cô hãy cám ơn Chúa vì đã ban cho
cô sắc đẹp tuyệt vời như thế”. Vị Giám Mục nói rất đứng đắn và trang nhã, nhưng
cũng đầy trìu mến. Chỉ vài ngày sau, có tiếng gõ cửa tại văn phòng của Đức Cha ở
New York. Người đến gặp Đức Cha không ai khác, mà chính là cô tiếp viên hôm nọ.
Cô vào đề ngay: “ Thưa Cha, con phải làm gì để cám ơn Chúa đã ban tặng cho con
sắc đẹp?” Thay vì trả lời, Đức Cha hỏi lại cô: “ Cô có bao giờ nghe nói về trại
phong Di Linh ở Việt Nam chưa?” Cô trả lời rằng cô có biết qua báo chí. Đức Cha
nói tiếp “ Những người cùi ở đó cũng xinh đẹp lắm. Chúa Giê-su đang hiện thân
nơi họ. Nếu cô muốn cám ơn Chúa, cô hãy sang Việt Nam và phục vụ họ như Chúa
Giê-su đã yêu thương và phục vụ chúng ta”.
Cô tiếp viên xinh đẹp đó đã bay sang Việt
Nam và sau đó trở thành nữ tu. Châm ngôn sống của cô là ‘Tôi cũng phải trở nên
như một tấm bánh được bẻ ra để trao ban tình thương của Chúa Giê-su cho những
người cùng khổ’.
Kết luận
Xin được tóm kết với bài thơ ngắn của thi
sĩ Tagor : “ Tôi đã nài xin Chúa cất khỏi tôi sự kiêu hãnh. Chúa trả lời rằng không.
Chính tôi là người phải phấn đấu để vượt thắng. Tôi đã nài xin Chúa cho đứa con
tật nguyền của tôi được lành lặn. Chúa nói không. Tinh thần mới cần lành lặn,
còn thể xác chỉ là tạm bợ. Tôi đã nài xin Chúa cho tôi được hạnh phúc. Ngài
cũng nói rằng không. Ơn Ta thì luôn đủ cho con, hạnh phúc con phải tìm lấy. Và
cuối cùng tôi xin Chúa ban cho tôi một quả tim để biết yêu thương. Chúa nói rằng
đây là lời cầu nguyện Ta vẫn hằng chờ đợi. Ta sẽ ban cho con một trái tim biết
rung lên những giai điệu yêu thương để con trở nên như một tấm bánh được bẻ ra,
được nhai nát và góp phần đem lại sự sống cho mọi người”.