Chúa Nhật Tuần 19 Thường niên, năm A
CHÚA GIÊSU ĐẾN GIỮA SÓNG GIÓ CUỘC ĐỜI
(1
V 19:9a.11-13a; Rm
9:1-5; Mt
14:22-33)
Lm. Antôn
Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Sóng gió luôn luôn xảy ra trong cuộc
sống mỗi người chúng ta. Khi gặp sóng gió, chúng ta thường sợ hãi và trong sóng
gió, nhiều khi chúng ta trách Chúa vì để chúng ta chèo chống một mình. Có khi
chúng ta bỏ Chúa vì khi cần Ngài chúng ta không thấy Ngài ở đâu. Tuy nhiên, khi
nhìn lại, chúng ta nhận ra rằng Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta. Tâm tình này
cũng được đức cố giám mục Giuse Vũ Duy Thống diễn tả trong bài hát DẤU CHÂN: “Hôm nao, thấy dấu chân đôi: Đó là Chúa đi
bên tôi. Hôm nào còn một dấu chân thôi: Là bởi vì Chúa ẵm tôi lên rồi.” Thật vậy, sự hiện diện của Chúa thật âm thầm nhẹ nhàng
đến nỗi nếu không nhạy bén với sự hiện diện của Ngài, chúng ta sẽ không nhận ra
Ngài đang ở bên hoặc bồng ẵm chúng ta trên tay.
Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta việc
Êlia tới núi Khôrếp là núi của Thiên Chúa để gặp Ngài. Như chúng ta biết, theo
truyền thống Kinh Thánh, núi là biểu tượng của nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa với
con người và cũng là nơi Thiên Chúa mặc khải chính mình và kế hoạch yêu thương
của Ngài để cứu độ con người. Trong sự kiện trên núi Khôrếp, Đức Chúa sẽ đi
ngang qua để ông Êlia được diện kiến: “Hãy ra ngoài và đứng trên núi
trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua. Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ
đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó
là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là
lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu
hiu. Vừa nghe tiếng đó, ông Êlia lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng
ở cửa hang” (1 V 19: 11-13a). Những lời trên chỉ rõ Đức Chúa không ở trong những gì
[vĩ đại] làm lay động vũ trụ như bão lớn, động đất hoặc lửa. Đức Chúa đến trong
tiếng gió nhẹ hiu hiu. Chi tiết này cho thấy để nhận ra sự hiện diện của Thiên
Chúa, chúng ta phải rất nhạy bén với cách thức Ngài đến trong cuộc đời của
mình. Nói cách khác, Thiên Chúa hiện diện trong sự âm thầm, đơn sơ và thuần
khiết.
Thánh Phaolô trong bài đọc 2 tỏ ra đau
lòng vì những người đồng bào, cùng là con cháu các tổ phụ mà từ đó Đức Kitô đến
với nhân loại lại không nhận ra thân phận cao quý của mình là “được Thiên Chúa
nhận làm con.” Thánh Phaolô đã chấp nhận nhiều đau khổ và khó khăn để
họ nhận ra điều này: “Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết
thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam
lòng. Họ là người Israel, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người
cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các
lời hứa; họ là con cháu các tổ phụ; và sau hết, chính Đức Kitô, xét theo
huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Đấng vượt
trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời” (Rm 9:3-5). Qua những lời
này, Thánh Phaolô cũng nhắc nhở cho chúng ta biết phẩm giá cao quý của mỗi
người. Chúng ta không đơn giản là những “tạo vật yếu đuối.” Chúng ta là những
người con của Thiên Chúa. Nhiều lần chúng ta đã quên căn tính và phẩm giá cao
quý của mình để rồi sống một lối sống không xứng đáng với ơn gọi của mình. Cuộc
sống chúng ta là một bài ca chúc tụng Thiên Chúa. Hãy sống thế nào cho xứng
đáng với ơn gọi cao quý ấy.
Bài
Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta sự kiện xảy ra sau khi hoá bánh ra
nhiều cho mọi người ăn và ai cũng được ăn no nê [mà chúng ta đã nghe trong bài
Tin Mừng Chúa Nhật trước]. Chúa Giêsu hướng dẫn các môn đệ xuống thuyền và
chính Ngài cũng chịu trách nhiệm giải tán dân chúng. Điều này cho thấy, Chúa
Giêsu là nhân vật chính của toàn bộ câu chuyện: Ngài quy tụ và Ngài sai mọi
người đi đến nơi Ngài muốn họ đến [kẻ về nhà, người đi ra vườn, kẻ đi làm trong
văn phòng, v.v.]. Một cách cụ thể, bài Tin Mừng hôm nay
thuật lại sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Câu chuyện này cũng được Thánh
Máccô (6:45-52) và Thánh Gioan (6:15-21). Câu chuyện bắt đầu với việc kể ra
những hoạt động của Chúa Giêsu sau phép lạ hoá bánh ra nhiều: “Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt
các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân
chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối
đến Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây
số, bị sóng đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển
mà đến với các môn đệ” (Mt 14:22-25). Những lời này giới thiệu
những sự kiện sẽ xảy ra sau khi Chúa Giêsu lên thuyền và cùng với các môn đệ đi
qua bờ bên kia, đó là địa hạt của dân ngoại. Chúng ta thấy Chúa Giêsu chính là
người giải tán đám đông chứ không phải các môn đệ vì họ là đàn chiên thuộc về
Ngài. Ngài sai họ về nhà của mình, còn Ngài thì “về nhà” của mình để gặp gỡ Cha
của Ngài trong giây phút cầu nguyện. Đời sống cầu nguyện của Chúa Giêsu chính
là khuôn mẫu cho người Kitô hữu. Ngoài những thời khắc cầu nguyện chung cùng
với cộng đoàn, người Kitô hữu được mời gọi dành những khoảng thời gian thinh
lặng trong việc cầu nguyện cá nhân cùng với thiên nhiên trước Thiên Chúa. Chính
trong khi cầu nguyện, Chúa Giêsu nhìn thấy chiếc thuyền của các môn đệ bị sóng
đánh và Ngài đã đến với họ. Trong bối cảnh này, gió mạnh ám chỉ đến những mãnh
lực chống đối của thế gian. Hình ảnh Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các
môn đệ chỉ rõ Ngài có quyền năng trên các mãnh lực chống đối của thế gian. Ở
đây chúng ta thấy có sự ảnh hưởng truyền thuyết của người Canaan và của Cựu
Ước, đó là Đức Chúa chiến thắng sóng biển của sự chết (x. Tv 77:19; Job 9:8;
38:16; Is 43:16). Tất cả những chi tiết trên nhắc chúng ta về việc Chúa Giêsu
có quyền năng trên tất cả những mãnh lực của sự dữ, ngay cả sự chết. Những sóng
gió trong cuộc sống của chúng ta
Khi
Chúa Giêsu đến trong lúc giông bão, các môn đệ không nhận ra Ngài, nhưng Chúa
Giêsu trấn an họ là chính Ngài luôn bên cạnh họ trong những lúc khó khăn trong
cuộc sống: “Thấy Người đi trên
mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: ‘Ma đấy!’ và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông:
“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14:26-27). Các môn
đệ đã không nhận ra Chúa Giêsu trong đêm bão giông của cuộc sống. Nỗi sợ hãi đã
làm họ mất niềm tin vào Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu trấn an họ, để họ không
còn sợ hãi mà tin vào Ngài. Đây chính là điều Chúa Giêsu làm cho các môn đệ, đó
là trấn an họ khi họ sợ hãi. Ngài khẳng định với họ rằng: “Chính Thầy đây!”
những lời này chỉ rõ việc Chúa Giêsu chia sẻ trong quyền năng Thiên Chúa để cứu
con người (x. Tv 18:17-18; 144:7; Xh 3:14; Is 43:10; 51:12). Nhiều lần Chúa
Giêsu cũng đến với chúng ta trong những giông bão cuộc đời. Chúng ta cũng đã
từng không nhận ra Ngài. Nhưng tiếng Ngài luôn vang lên nói chúng ta đừng sợ.
Đừng sợ sóng gió trong cuộc sống, vì Chúa Giêsu luôn ở bên chúng ta, cầu nguyện
cho chúng ta trong những lúc đó.
Câu
chuyện chuyển từ phản ứng của các môn đệ đến phản ứng của một mình Thánh Phêrô
trước sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Chúng ta viết lại cuộc đối thoại này
như sau:
Phêrô: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi
trên mặt nước mà đến với Ngài.”
Chúa Giêsu: “Cứ đến!”
[Ông Phêrô từ thuyền
bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi
thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm]
Phêrô: “Thưa Ngài, xin cứu con với!”
Chúa Giêsu [liền đưa tay nắm lấy ông]: “Hỡi kẻ kém lòng
tin! Sao lại hoài nghi?”
Thánh
Mátthêu đã thêm vào cuộc đối thoại này (câu 28-31) nhằm mục đích nói lên vị trí
cao trọng của Phêrô. Hành động của Phêrô không có ý nghĩa gì trừ khi chúng ta
liên kết nó với một tình yêu được thúc đẩy và một đức tin bị yếu đi vì nghi
ngờ. Các yếu tố đặc trưng và cá nhân độc nhất vô nhị quyện chặt vào nhau ở đây
(x. Ga 20:28-29).
Câu
chuyện trở lại với các môn đệ, những người trong thuyền: “Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. Những
kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: ‘Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!’” (Mt 14:32-33). Khi đã thấy Chúa Giêsu làm cho sóng lặng,
các môn đệ hiểu được Ngài được chia sẻ trong quyền năng của Thiên Chúa nên đã
“bái lạy” Ngài, đây là hành vi tôn thờ và tuyên xưng rằng Ngài là Con Thiên
Chúa. Chi tiết này trái ngược với kết thúc của Thánh Máccô, ở đây các môn đệ đã
hiểu và tin; họ đã tiên báo trước lời tuyên xưng của Phêrô trong 16:16. Tóm
lại, toàn bộ câu chuyện liên quan đến phép lạ về thiên nhiên và được xếp loại
như là một sự hiển linh qua việc chế ngự mãnh lực của biển khơi. Câu chuyện này
giống với câu chuyện làm biển lặng trong 8:18-27. Theo các học giả Kinh Thành,
đây chính là dụ ngôn nói về Giáo Hội bị bao vây và là biểu tượng của một đức
tin vững mạnh, đi ra khỏi vùng chưa biết, nhưng có thể bị tổn thương. Chi tiết
này nhắc nhở chúng ta rằng trong sóng gió cuộc đời, dù có bị tổn thương, nhưng
hãy vững tin vào Chúa luôn.