Suy niệm Lời Chúa: Thứ Hai tuần 9 Thường niên
CHÚNG
TA LÀ NHỮNG NGƯỜI LÀM TRONG VƯỜN NHO CỦA THIÊN CHÚA
(2
Pr 1:2-7; Mc
12:1-12)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Sau những ngày lễ trọng trong Mùa Phục Sinh, hôm
nay, chúng ta bắt đầu trở lại Mùa Thường Niên. Mùa Thường Niên không phải là
mùa “bình thường” không có gì đặc biệt như chúng ta thường hiểu. Mùa Thường
Niên là mùa nhắc nhở chúng ta về việc thánh hiến thời gian “thường ngày” của
mình cho Chúa. Nói cách khác, chúng ta được mời gọi tìm thấy Chúa trong những
cái gì là tầm thường của ngày sống. Thật vậy, chúng ta dễ dàng tìm thấy Chúa
trong những sự kiện lớn lao, trong những “mùa quan trọng” của năm phụng vụ. Nhưng
trong những gì là nhỏ bé, không quan trọng chúng ta thường không thấy Chúa ở
đâu. Nếu như thế, chúng ta sẽ bỏ qua thật nhiều cơ hội để gặp Chúa, vì Mùa
Thường Niên chiếm thời gian nhiều nhất trong năm phụng vụ so với các mùa khác.
Trong bài đọc 1 hôm nay, Thánh Phêrô nhắc cho chúng
ta biết rằng: “Anh em thân
mến, chúc anh em được đầy tràn ân sủng và bình an, nhờ được biết Thiên Chúa và
Đức Giêsu, Chúa chúng ta” (2 Pr 1:2). Theo Thánh
Phêrô, chúng ta được tràn đầy ân sủng và bình an vì nhờ biết Thiên Chúa và Đức
Giêsu. Chúng ta đã biết Thiên Chúa và Đức Giêsu được bao nhiêu? Nếu thành thật
với lòng mình, chúng ta nhận ra rằng chúng ta dành thời gian để biết những thứ
không quan trọng hoặc không cần thiết trong cuộc sống hơn là để biết Thiên Chúa
và Đức Giêsu. Thánh Phêrô nêu ra lý do tại sao chúng ta cần phải biết Thiên
Chúa và Đức Giêsu, vì chúng ta đã được ban tặng “những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để
nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh
hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian”
(1 Pr 1:4). Vì được thông phần bản tính Thiên Chúa, chúng ta
chỉ biết giá trị thật của mình khi chúng ta biết Thiên Chúa và Đức Giêsu. Như
thế, càng đến gần và càng biết Thiên Chúa và Đức Kitô, chúng ta càng biết chính
mình cũng như giá trị thật của mình. Ngoài việc chỉ ra lý do tại sao chúng ta
cần biết Thiên Chúa và Đức Kitô, Thánh Phêrô còn chỉ cho chúng ta cách thức để
đạt đến điều đó. Đó là qua con đường đức ái: “Anh em hãy đem tất cả nhiệt tình, làm sao để khi đã
có lòng tin thì có thêm đức độ, có đức độ lại thêm hiểu biết, có hiểu
biết lại thêm tiết độ, có tiết độ lại thêm kiên nhẫn, có kiên nhẫn lại thêm đạo
đức, có đạo đức lại thêm tình huynh đệ, có tình huynh đệ lại thêm bác ái” (1 Pr 1:5-7). Chúng ta chỉ có
thể biết Thiên Chúa và Đức Kitô qua con đường đức ái, vì Thiên Chúa là tình yêu
(1 Ga 4:8).
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta dụ ngôn
vườn nho. Dụ ngôn này nói về việc Chúa Giêsu bị những người lãnh đạo Do Thái chống đối, một sự chống
đối mà các sứ giả được Thiên Chúa sai đi trước kia cũng đã bị đối xử như vậy. Có một vài chi tiết mang tính ẩn dụ trong dụ ngôn:
Vườn nho là Israel; người chủ vườn nho là Thiên Chúa; những tá điền là những
người lãnh đạo Israel; người con yêu dấu là Chúa Giêsu. Những hình ảnh khác
trong dụ ngôn không ẩn chứa gì quan trọng lắm. Bài Tin Mừng bắt đầu với
việc chỉ rõ dụ ngôn này là dành cho các lãnh đạo trong dân Israel: “Khi ấy, Đức Giêsu bắt đầu dùng dụ ngôn mà nói với
các thượng tế, kinh sư và kỳ mục” (Mc 12:1). Chúa Giêsu dùng
dụ ngôn để nói với họ vì Ngài muốn sử dụng những ngôn từ và hình ảnh quen thuộc để chuyển
tải sứ điệp Ngài muốn nói đến. Mặc dù khác nhau trong hình thức với những gì
liên quan đến câu chuyện, nội dung chính của dụ ngôn là mối tương quan giữa
Chúa Giêsu và những kẻ chống đối Ngài.
Điều chúng ta lưu ý ở đây là ngôn từ được sử dụng,
nhất là “vườn nho”: “Có người kia
trồng được một vườn nho; ông rào giậu chung quanh, đào bồn đạp nho và xây một
tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa” (Mc 12:1). Những ngôn từ sử
dụng được lấy từ sách Ngôn Sứ Isaia (5:1-2). Thính giả của Chúa Giêsu nhận ra
những hình ảnh quen thuộc sau: “Vườn nho” là biểu tượng của Israel; “Rào giậu”
để không cho thú vật đến phá hoại vườn nho; “bồn đạp nho” là để nghiền nho thành
rượu; “tháp canh” là nơi để những người canh gác giữ vườn nho và nghỉ ngơi. Hành động
ban đầu của ông chủ là: trồng, rào giậu, đào bồn, xây tháp canh, cho tá điền
canh tác, trẩy đi xa. Những hành động này chỉ ra rằng vườn nho thuộc về ông
chủ. Ông đã làm hết mọi sự cần thiết. Nhiệm vụ của tá điền là chỉ canh tác vườn
nho cho ông chủ chứ không phải làm chủ vườn nho. Đây chính là điểm xoáy trong
dụ ngôn: Những người tá điền không chỉ muốn canh tác mà còn muốn làm chủ vườn
nho. Điều này đã mang lại những hành động sai và kết quả không tốt cho các tá
điền vì không sống đúng với chân tính của mình. Nhiều lần trong cuộc sống của
mình, chúng ta cũng không sống đúng với căn tính của mình. Chúng ta muốn làm
chủ và quyết định hết mọi thứ. Chúng ta trở nên “chúa” của cuộc sống mình và
của người khác. Điều này đã đưa đến những hành động sai trái và kết quả đau
buồn. Hãy sống là chính mình trước mặt Chúa và người khác.
Như chúng ta đã nói, những người tá điền đã muốn
chiếm lấy vườn nho, chiếm hữu những gì không thuộc về mình nên đã có những hành
động sai trái: “Đến mùa, ông
sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi vườn nho mà họ phải
nộp. Nhưng họ bắt người đầy tớ, đánh đập và đuổi về tay không. Ông
lại sai một đầy tớ khác đến với họ. Họ đánh vào đầu anh ta và hạ nhục. Ông
sai một người khác nữa, họ cũng giết luôn. Rồi ông lại sai nhiều người khác: kẻ
thì họ đánh, người thì họ giết” (Mc 12:2-5). Thuật
ngữ “đến mùa” có thể là năm thứ năm sau khi trồng vườn nho (x. Lv 19:23-25).
Trong những lời trên, chúng ta thấy ba đầy tớ được sai đi nhận những lối hành
xử càng ngày càng khốc liệt: người thứ nhất bị đánh đập, người thứ hai bị đánh
vào đầu và hạ nhục, người thứ ba thì bị giết. Mặc dù trích đoạn trên nhằm mục
đích đồng hoá ba người tôi tớ với các ngôn sứ trong Cựu Ước, nó phải được đọc
trong một bối cảnh lớn hơn, đó là việc đồng hoá ba tôi tớ với những sứ giả của
Thiên Chúa sai đến với Israel (Môsê, Giôsua, Davít, v.v.). Chúng ta học được gì
ở đây? Là sứ giả của Thiên Chúa, chúng ta cũng sẽ phải đối diện với những đối
xử bất công và đôi khi mất mạng sống của mình. Đây là điều tất yếu sẽ xảy ra
cho những sứ giả chân thật của Thiên Chúa. Chúng ta có sẵn sàng chấp nhận điều
đó không?
Sau khi thấy những người tá điền đối xử không tốt
với các tôi tớ, “Ông [chủ] chỉ còn một
người nữa là người con yêu dấu: người này là người cuối cùng ông sai đến gặp
họ; ông nói: ‘Chúng sẽ nể con ta.’ Nhưng bọn tá điền ấy bảo nhau: ‘Đứa
thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta.’ Thế là
họ bắt cậu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho” (Mc 12:6-8). Ông
chủ nghĩ những người tá điền sẽ đối xử cách tôn trọng với “người con yêu dấu”
của ông. Thuật ngữ “con yêu dấu” được sử dụng bởi tiếng phán từ trời để nói về
Chúa Giêsu trong sự kiện Ngài chịu phép rửa (x. Mc 1:11) và biến hình (x. Mc
9:7). Điều này cho thấy Máccô và đọc giả của mình đồng hoá Chúa Giêsu với
“người con yêu dấu” của Thiên Chúa. Những người tá điền xem người con yêu dấu
là “đứa thừa tự” và muốn giết người con. Niềm hy vọng chiếm hữu vườn nho của
các tá điền không được đặt trên việc thực hành mang tính pháp lý, nhưng trên
việc làm xáo trộn “danh xưng” [từ “người con yêu dấu” thành “đứa thừa tự”].
Theo ngôn từ bình dân, các tá điền muốn chiếm hữu vườn nho bằng việc “thừa nước
đục thả câu.” Đây cũng là thái độ của nhiều người trong chúng ta. Nhiều lần
chúng ta làm xáo trộn mọi sự và trở thành “ngư ông đắc lợi.” Nhưng niềm hy vọng hão huyền của các tá điền
đã bị tan biến vì họ quên mất rằng vườn nho không phải là của họ, mà là của ông
chủ: “Vậy ông chủ
vườn nho sẽ làm gì? Ông sẽ đến tiêu diệt các tá điền, rồi giao vườn nho cho
người khác” (Mc 12:9).
Những lời này nhắc nhở chúng ta rằng: Chúng ta chỉ là những người làm công trong
vườn nho[Giáo Hội] của Thiên Chúa. Chúng ta không phải là chủ. Hãy làm lợi và
nộp hoa màu cho Thiên Chúa như Ngài mong ước nơi chúng ta.