Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật tuần 4 Mùa Chay năm A
ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU ĐỂ NHẬN ĐƯỢC ÁNH SÁNG THẾ GIAN
(1
Sm 16:1b.6-7.10-13a;
Ep 5:8-14;
Ga 9:1-41)
Lm. Antôn
Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Trong bài hát “Đôi Mắt” của Xuân Hồng,
chúng ta tìm thấy những lời sau: “Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và
để làm duyên. Đời cho em đôi mắt màu đen, để thương để nhớ, để ghen để hờn. Đôi
mắt em là cửa sổ tâm hồn. Là bài thơ hay nhất, là lời ca không dứt, là tuyệt
tác của thiên thu.” Đôi mắt thường đi đôi với ánh sáng. Nói cách cụ thể hơn,
đôi mắt cần ánh sáng để nhìn thấy. Có hai loại mắt: mắt thể lý và mắt con tim
[mắt đức tin hay mắt linh hồn], nên cần có hai loại ánh sáng: ánh sáng tự nhiên
và ánh sáng siêu nhiên. Con mắt thể lý cần ánh sáng tự nhiên, nhưng chỉ nhìn
thấy được vẻ bề ngoài của một người hay sự vật. Con mắt linh hồn cần ánh sáng
siêu nhiên và có thể nhìn thấy được tâm hồn của người khác. Con mắt thể lý để
nhìn thấy anh chị em mình, con mắt đức tin để nhìn thấy Chúa trong anh chị em
mình. Chỉ những ai có được cặp mắt như thế mới có thể sống trọn vẹn cho Chúa và
cho anh chị em mình. Đây chính là đề tài chính của lời Chúa hôm nay.
Bài đọc 1 thuật lại cho chúng ta câu
chuyện về việc Đavít được Samuen xức dầu tấn phong làm vua. Trong trình thuật
này, chúng ta được trình bày về sự khác biệt giữa hai cái nhìn: cái nhìn vẻ bề
ngoài của Samuen và cái nhìn thấu tâm can của Thiên Chúa: “Khi ông
Giesê và các con trai ông đến, ông Samuen thấy Êliáp, ông nghĩ: ‘Đúng rồi!
Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây!’ Nhưng
Đức Chúa phán với ông Samuen: ‘Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó,
vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ
thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng’” (1 Sm 16:6-7).
Những lời này mời gọi chúng ta nhìn lại cách thức mình nhìn và nhận xét anh chị
em. Với con mắt thể lý, chúng ta chỉ có thể thấy được vẻ bề ngoài chứ không thể
nhìn thấy những gì đang xảy ra bên trong của anh chị em. Có câu nói trong đời rằng:
Nếu con mắt thể lý của bạn nhìn một người mà làm cho bạn không thích hoặc ghét
người đó, bạn hãy đóng con mắt thể lý lại và nhìn với con mắt con tim, bạn sẽ
thấy mình bắt đầu cảm thông và yêu thương người đó. Về điều này, lời Chúa trong
bài đọc 1 mời gọi chúng ta hãy học ở Đức Chúa. Ngài không theo vẻ bề ngoài để
xét đoán, nhưng nhìn vào cõi lòng.
Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô nhắc nhở
các tín hữu Êphêsô về đời sống trong Chúa, trong ánh sáng mà họ đã lãnh nhận.
Thánh Phaolô nêu cho họ tiêu chuẩn để biết sống như con cái sự sáng sẽ như thế
nào: “Vậy anh em hãy
ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương
thiện, công chính và chân thật. Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng
Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch
trần những việc ấy ra mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói
đến đã là nhục rồi” (Ep 5:8-12). Một trong những điều
quan trọng mà Thánh Phaolô chỉ ra để cho biết mình có sống trong ánh sáng hay
không là sống đời sống lương thiện, công chính và chân thật. Đây là lối sống
đẹp lòng Thiên Chúa và đây cũng là lối sống cần thiết cho thời đại ngày hôm
nay. Bên cạnh đó, Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu đang còn ngủ mê hoặc
sống trong chốn tử vong của tội lỗi hãy trỗi dậy vì Đức Kitô chiếu sáng trên họ
(x. Ep 5:14). Với ánh sáng của Đức Kitô, chúng ta sẽ bước đi trong đường lối
của Thiên Chúa như câu chuyện anh mù được tường thuật trong Tin Mừng hôm nay.
Bài Tin Mừng hôm nay đưa chủ đề ánh mắt
và ánh sáng trong bài đọc 1 đến cực điểm qua câu chuyện Chúa Giêsu chữa người
mù từ thuở mới sinh. Để hiểu ý nghĩa của câu chuyện, điều chúng ta cần làm là
xem xét cấu trúc của bài Tin Mừng. Bài Tin Mừng được sắp xếp theo lối nghệ
thuật kịch Hy Lạp và có cấu trúc như sau: Chữa lành người mù từ thuở mới sinh
(9:1-12), những người Pharisêu chất vấn người mù đã được chữa lành và người mù
làm chứng Chúa Giêsu là một ngôn sứ (9:13-17), người Do Thái chất vấn bố mẹ của
người mù và họ sợ bị đuổi ra khỏi hội đường (9:18-23), cuộc tra khảo người mù
lần thứ hai và đuổi anh ta ra khỏi hội đường (9:24-34), người mù tuyên xưng
Chúa Giêsu là Con Người (9:35-38), sự đui mù của những người Pharisêu
(9:39-41). Chúng ta cùng nhau rút ra những bài học từ những điểm khác nhau được
trình bày trong cấu trúc của bài Tin Mừng.
Trình thuật Tin Mừng bắt đầu với sự
kiện chữa lành người mù từ thuở mới sinh. Chúng ta thấy câu chuyện này tìm thấy
sự tương đồng với câu chuyện được trình thuật trong Tin Mừng Nhất Lãm, nhưng
được kể cách chi tiết hơn. Động lực để Chúa Giêsu chữa người mù là “để thiên hạ
nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải
thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai
có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế
gian” (Ga 9:3-4).
Trong những lời này, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là ánh sáng thế gian. Tất cả
những gì Ngài thực hiện là đem vinh danh cho Thiên Chúa vì những việc Ngài thực
hiện là thánh ý của Thiên Chúa. Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại đời sống
Kitô hữu của mình. Chúng ta có mang lại vinh quang cho Thiên Chúa qua việc làm
của mình hay không hay chúng ta đang đi tìm vinh quang cho chính mình?
Vì Ngài là ánh sáng thế gian, nên những
ai đến với Ngài, để Ngài chạm vào sẽ được chữa lành như anh mù: “Đức Giêsu
nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo
anh ta: ‘Anh hãy đến
hồ Silôác mà rửa’ (Silôác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta
đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được” (Ga 9:6-7). Điểm đáng lưu ý trong phần này Chúa Giêsu muốn sự cộng
tác của anh mù, đó là đi rửa ở hồ Silôác. Hình ảnh này ám chỉ đến bí tích rửa
tội mà chúng ta đã lãnh nhận. Sau khi được rửa sạch khỏi tội lỗi, chúng ta sẽ
được nhìn thấy và sống trong ánh sáng của ân sủng. Sau khi được chữa lành, điều
đầu tiên người mù nhận ra đó là anh biết chính xác Chúa Giêsu là người chữa
lành mình, dù không biết Ngài ở đâu: “Người tên là Giêsu đã trộn một
chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: ‘Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.’ Tôi đã đi,
đã rửa và tôi nhìn thấy.’ Họ lại hỏi anh: ‘Ông ấy ở
đâu?’ Anh ta đáp:
‘Tôi không
biết’” (Ga 9:11-12).
Chi tiết này nhắc nhở mỗi người chúng ta về việc nhận ra Chúa Giêsu đang đồng
hành trong công việc hằng ngày. Ngài làm việc với và trong chúng ta, dù chúng
ta không biết Ngài ở đâu. Chúng ta cần vun trồng sự nhạy cảm với sự hiện diện
của Chúa Giêsu trong đời sống thường ngày.
Trong cuộc thẩm vấn người mù của người
Pharisêu, điều đáng để chúng ta suy gẫm là thái độ dũng cảm của người mù làm
chứng cho Chúa Giêsu: “Trong nhóm Pharisêu, người thì nói: ‘Ông ta không
thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát’; kẻ thì
bảo: ‘Một người
tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?’ Thế là họ
đâm ra chia rẽ. Họ lại hỏi người mù: ‘Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?’ Anh đáp: ‘Người là một
vị ngôn sứ!’” (Ga 9:16-17). Thái độ của anh mù nhắc nhở chúng ta về
đời sống làm chứng của mình như những người Kitô hữu. Nhiều lần trong ngày
sống, chúng ta không đủ can đảm để đứng về phía sự thật, nhất là khi đứng trước
những quyền lực của con người. Chúng ta sợ con người hơn sợ Thiên Chúa. Anh mù
đã cho chúng ta một tấm gương. Dù vẫn chưa rõ chân tính của Chúa Giêsu, nhưng
với lòng trắc ẩn về những gì Chúa Giêsu đã làm cho mình, anh đã đặt trọn niềm
tin vào Chúa Giêsu và làm chứng cho Ngài.
Trái với anh mù, bố mẹ của người mù vì
sợ bị trục xuất mà không dám đứng về phía con mình để làm chứng cho Chúa Giêsu:
“Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn
bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho
nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có
thể tự khai được.’ Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do Thái” (Ga 9:21-22). Chúng ta nhìn thấy
chính mình trong hình ảnh cha mẹ của anh mù. Vì một vài lợi ích, chúng ta đã không
đủ can đảm để làm chứng cho Chúa Giêsu, để tỏ ra mình là những người Kitô hữu,
những người thuộc về Thiên Chúa. Đừng vì lợi ích cá nhân mà bỏ Chúa và bỏ nhau.
Thêm một lần nữa, người mù làm chứng
cho Chúa Giêsu dù phải chấp nhận bị trục xuất khỏi hội đường: “Kể cũng lạ
thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã
mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn
ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ
ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới
sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng
làm được gì” (Ga 9:30-33). Lần thứ hai, Thánh Gioan đặt trước mặt chúng ta hình ảnh
người mù với lời làm chứng và tuyên xưng đức tin của anh trước những người có
thể lực. Anh đã tuyên xưng Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, hay đúng hơn là
Đấng được sai đến [đây chính là nghĩa của từ Silôác]. Anh đã sẵn sàng chấp nhận
mọi thiệt thòi vì Chúa Giêsu. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có sẵn sàng hy
sinh mọi sự vì Chúa Giêsu không?
Đỉnh cao của hành trình đức tin của anh
mù là cuộc gặp gỡ diện đối diện với Chúa Giêsu sau khi anh được chữa lành. Anh
tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giêsu sau khi thấy kỳ công Ngài đã thực
hiện cho mình. Chúa Giêsu không chỉ ban cho anh ánh sáng thể lý, nhưng còn ban
cho anh ánh sáng đức tin: “Đức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại
anh, Người hỏi: ‘Anh có tin vào Con Người không?’ Anh
đáp: ‘Thưa Ngài,
Đấng ấy là ai để tôi tin?” Đức Giêsu trả lời: ‘Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.’ Anh
nói: ‘Thưa Ngài,
tôi tin.’ Rồi anh sấp
mình xuống trước mặt Người” (Ga 9:35-38). Thái độ sấp mình
thờ phượng là cử chỉ tôn thờ. Đức tin sẽ được diễn tả qua đời sống thờ phượng.
Chúng ta chỉ biết chiều sâu của đức tin khi chúng ta diễn tả qua đời sống thờ
phượng Thiên Chúa cách chân thành hay như lời của Chúa Giêsu là thờ phượng
trong Thần Khí và sự thật.
Điểm cuối cùng là sự đui mù của những
người Pharisêu như Chúa Giêsu khẳng định: “Những người Pharisêu đang ở đó với Đức Giêsu nghe vậy,
liền lên tiếng: ‘Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?’ Đức
Giêsu bảo họ: ‘Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng
giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9:40-41).
Thái độ của những người Pharisêu khuyến cáo chúng ta về thái độ tự cao, cứng
lòng tin và loại trừ của chúng ta. Nhiều lần, chúng ta cho mình nhìn thấy và
anh chị em chúng ta đui mù, chúng ta thánh thiện còn anh chị em tội lỗi. Khi
sống trong thái độ đó, chúng ta đang sống trong sự đui mù của đức tin, hy vọng
và đức ái. Điều Chúa Giêsu mời gọi là chúng ta nhận ra sự đui mù của mình và
chạy đến với Ngài để được chữa lành.