Suy niệm Lời Chúa: Chúa nhật 21 Thường niên năm B
Trung
thành hay phản bội ?
Lm.
Gioan B. Trần Văn Hào, SDB
Người ta vẫn thường
nói, trên đời này không có gì ghê tởm và đáng cho chúng ta khinh bỉ cho bằng sự
phản bội. Trò phản thầy, con cái phản bội công ơn cha mẹ, nhất
là vợ chồng phản bội nhau trong nghĩa tình phu thê, tất cả đều đáng bị nguyền rủa
và coi khinh. Tuy nhiên, trong đời sống đức tin, đặc biệt trong ơn gọi thánh hiến,
chúng ta cũng có nguy cơ dễ rơi vào sự bội phản này. Lời tuyên tín của thánh Phêrô
trong trình thuật Tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta phải luôn canh tân lòng
trung thành và bền bỉ theo Chúa Giêsu từng ngày: “ Bỏ Thầy chúng con biết đến với
ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6,68)
Nghịch
lý của Lời
Sau khi Đức Giêsu tuyên
bố : “ Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì được sống muôn đời”, nhiều môn đệ dị
ứng và ngán ngẩm bỏ đi. Có lẽ họ đã theo Chúa một thời gian khá lâu với những động
cơ khác nhau, nhưng cuối cùng hầu hết đã thoái lui và đầu hàng vô điều kiện. “Lời
này chướng tai quá, ai mà nghe nổi”(c.60). Họ bỏ của chạy lấy người, vì không
thể chấp nhận nghịch lý theo suy luận tự nhiên nơi đầu óc của họ. Lời Đức Giêsu
tuyên bố làm sụp đổ hoàn toàn những toan tính trần thế mà họ vẫn đeo bám khi đến
với Đức Giêsu. Quả thật, Đức Giêsu vẫn luôn là một mầu nhiệm ẩn kín và khó hiểu.
Mầu nhiệm về Ngài và những lời Ngài nói luôn hàm ngậm một nghịch lý, và cao điểm
của nghịch lý này là cái chết trên Thập giá. Một con người mà họ mơ tưởng sẽ trở
thành thủ lãnh chính trị, khai lập một vương quốc mới đầy oai phong, lại bị kết
án như một tên tội phạm, và bị treo thân cách nhục nhã giống hệt một tên cướp
đáng sợ. Một số môn đệ bỏ đi cũng dễ hiểu. Lời Đức Giêsu nói ra nghe thật chói
tai và nhức nhối. Giả như chúng ta ở vào hoàn cảnh đó, có lẽ chúng ta cũng sẽ
hành xử giống như họ. Khi tuyên bố như thế, ông Giêsu đúng là một con người
điên điên khùng khùng chẳng giống ai. Ngay cả các thân nhân đồng hương với Chúa
cũng đã có lần phải lắc đầu và ngao ngán thốt lên “ Ông ấy đã mất trí rồi”( Mc
3,21).
Nhưng nếu tìm hiểu căn nguyên
một cách sâu xa hơn, một số môn đệ bỏ đi, bởi vì họ đã chưa thực sự cắm sâu vào
mầu nhiệm Đức Giêsu. Họ chỉ nghe Chúa nói bên ngoài, nhưng bên trong, tâm hồn họ
vẫn hoàn toàn đóng khép. Con tim họ chưa mở toang ra để lời Chúa có thể thẩm thấu
vào sâu tận nơi con người họ. Thánh Biển Đức cũng dạy các con cái Ngài: “ Chúng
con phải siêng năng lắng nghe Lời Chúa, nhưng không phải nghe với đôi tai của
thân xác mà với đôi tai của cõi lòng”.
Tự bản chất, Đức Giêsu
chính là Lời hằng sống được hiến trao cho nhân loại. “ Lời đã trở nên xác phàm
và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Lời Thiên
Chúa không phải là một hệ thống những triết ngôn, hay những tư tưởng khuyến thiện
để răn đời. Lời Chúa ở trên một mức độ khác, cao cả hơn rất nhiều, bởi vì Lời Chúa
và duy nhất chỉ có Lời của Thiên Chúa mới đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.
Đây là lời tuyên tín của Thánh Phêrô, được khởi hứng bởi Thần khí, đồng thời
cũng là một mặc khải sâu xa Thiên Chúa ngỏ trao. Những kiến thức khoa học,
chúng ta có thể nghiên cứu để sở đắc. Những chân lý triết học, chúng ta có thể
dùng lý luận để suy tư. Nhưng lời Chúa không phải là một mớ kiến thức để nhồi
nhét, nhằm thỏa mãn sự tò mò nơi đầu óc con người. Muốn đón nhận lời của Chúa để
được trường tồn, thái độ căn bản cần phải có chính là “tin” vào Ngài. Trong diễn từ về bánh nơi chương 6 trong Tin mừng Gioan,
Đức Giêsu nói khá nhiều về thái độ căn bản này: “Ai tin vào tôi sẽ được sống muôn
đời”. Lời khuyến mời của Đức Giêsu cũng tương thích với lời tuyên tín của thánh
Phêrô. “ Chỉ Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Ăn thịt và uống máu
Chúa, cũng như mở lòng đón nhận nhận Lời của Thiên Chúa sẽ được trường sinh.
Đây là hai cách thái giống hệt nhau biểu tỏ một thực tại duy nhất : Tin vào Đức
Giêsu.
Canh
tân lòng trung thành
Lời của Chúa là nghịch lý
luôn hàm ngậm mầu nhiệm tự hủy. Thánh giáo phụ Grêgoriô thành Nysse đã quảng diễn
nghịch lý đức tin này khi Ngài viết: “Hành trình đức tin của chúng ta đến với
Chúa giống như chúng ta đang dấn bước tìm đến một khoảng tối đầy ánh sáng”. Ánh
sáng và bóng tối, sự sống và sự chết, ân sủng và tội lỗi.... là những cặp phàm
trù tương phản và đối kháng nhau ẩn chứa nơi nghịch lý của Lời, cũng như trong
nghịch lý nơi mầu nhiệm Đức Giêsu. Trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta phải
liều lĩnh dấn bước vào bóng tối để tiến đến ánh sáng, phải chấp nhận đi qua Thập
giá và cái chết để tiến nhận sự sống và vinh quang. Đối diện trước nghịch lý
này, chúng ta sẽ phải chạm mặt với những cám dỗ muốn thoái lui và không muốn chấp
nhận điều nghịch thường đó. Vì thế, chúng ta cần phải canh tân lòng trung thành
mỗi ngày. Đức tin không phải chỉ đón nhận một lần là xong. Thánh Phaolô cũng đã
căn dặn giáo đoàn Rôma : “ Những người có đức tin vững mạnh phải nâng đỡ những
người yếu đuối không có niềm tin vững mạnh” (Rm 15,1).
Đức Thánh Giáo hoàng
Gioan Phaolô II cũng đã từng cảnh báo chúng ta về ba nguy cơ gây xói mòn đức
tin và làm suy giảm căn tính đích thực nơi mọi Kitô hữu, đó là sống theo chủ
nghĩa duy vật (materialism), sống theo chủ nghĩa hưởng thụ (consumerism) và sống
theo chủ nghĩa tục hóa (secularism). Là môn đệ Đức Giêsu, chúng ta phải đặt Thiên
Chúa vào chỗ tối thượng (in primacy). Điều này ai cũng biết trên lý thuyết, nhưng
trong thực tế, chúng ta lại hay sống theo kiểu khác. Khi chúng ta thượng tôn tiền
bạc, đặt tiền bạc làm thước đo mọi giá trị theo kiểu sống duy vật, thì đó chính
là một sự phản bội. Khi chúng ta chủ trương sống an nhàn với những tiện nghi vật
chất để thỏa mãn nhu cầu thể xác theo kiểu sống hưởng thụ, đó cũng là một sự phản
bội. Đặc biệt, khi chúng ta mất dần cảm thức linh thánh, không còn thiết tha đến
việc cầu nguyện và rơi vào nếp sống tục hóa, thì chắc chắn đó cũng chính là con
đường phản bội mà chúng ta đang từ từ đi vào. Chúng ta phải can đảm đạp đổ những
‘con bò vàng’ giống như con bò vàng của những người Do thái năm xưa trong sa mạc
Sinai, để từng giờ từng phút, chúng ta luôn lặp lại quyết tâm sống trung thành.
Nguy
cơ phản bội
Một đứa bé 12 tuổi ngồi
tham dự phiên tòa xét xử vụ án ly dị của bố mẹ, đã viết lại những dòng tâm sự đầy
nước mắt sau đây:
“ Con nhớ mãi buổi chiều
thu ấy, lá rơi nhiều. Bên ngoài trời mưa tầm tã. Bố đến hôn con, một nụ hôn cay
đắng và nghiệt ngã. Tâm hồn con tan nát và chết lặng.
Bố ơi, sao bố dùng cái
hôn ấy để xé nát gia đình chúng ta. Sao bố dùng nụ hôn giả dối ấy để trao cho
con thay vì hôn trên đôi môi của mẹ. Chữ ký ngày xưa trên bàn thờ Chúa ngày bố
mẹ thành hôn nay trở thành những nét chữ không hồn.
Mẹ ơi, sao mẹ không đến
nhận nụ hôn thay cho con, nụ hôn ngày xưa mẹ đã hạnh phúc lãnh nhận trước bàn
thờ Chúa. Sao mẹ vẫn lạnh lùng đứng đó như một kẻ xa lạ nhìn bố hôn con, một nụ
hôn như mũi dao nhọn đâm nát trái tim bé bỏng nơi con.
Bố ơi, mẹ ơi, con phải
trung thành với ai đây khi con sẽ đứng nhìn những nụ hôn bố trao cho mẹ ghẻ, mẹ
sẽ trao cho một người đàn ông khác hoàn toàn xa lạ.
Chúa ơi, con còn quá nhỏ
bé, sao Chúa để con phải nhận những nụ hôn Giuđa này?”
Đúng vậy, trên đời này
không có gì đáng chúng ta ghê tởm cho bằng sự phản bội.
Nhưng, những nụ hôn Giuđa
hình như vẫn đang được lặp lại trong cuộc sống mỗi người chúng ta, qua nhiều dạng
thức khác nhau, đặc biệt trong đời sống đức tin, nhất là trong đời sống thánh
hiến.
Kết
luận
Cha Matthêu King, một
linh mục dòng Salêdiêng DonBosco đã qua đời cách đây hơn 10 năm. Ngài được Đức Thánh
Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời sang Rôma để làm cố vấn đặc biệt cho giáo triều
về những vấn đề của giáo hội Trung hoa lục địa. Trong những năm tháng cuối đời
nằm trên giường bệnh quặn đau với căn bệnh ung thư, Ngài vẫn thường nói: “ Tôi
luôn cám ơn Chúa về ba hồng ân Chúa đã ban cho tôi. Trước hết, tôi được biết Chúa
và trở nên môn đệ Đức Giêsu ngày tôi lãnh nhận bí tích Thánh tẩy. Thứ đến, Chúa
đã chọn tôi trong ơn gọi Salêdiêng và trở nên một linh mục phục vụ Giáo hội. Cuối
cùng, Chúa đã gửi đến cho tôi căn bệnh đau đớn này để tôi được thông dự vào những
khổ đau với Chúa Giêsu trên Thánh giá. Tôi luôn cảm tạ Chúa vì ba ân huệ quý
giá này”. Ngài cũng luôn nói với những ai đến thăm Ngài : “ Xin anh em cầu nguyện
cho tôi, để tôi được mãi trung thành”.
Đức tin không phải chiếm
được một lần là xong. Chúng ta còn phải chiến đấu mãi, phải luôn bươn chải mãi,
để với ơn Chúa, chúng ta có thể trung thành đến cùng.