Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật Phục Sinh
ĐỜI SỐNG YÊU THƯƠNG THA THỨ: CHỨNG CỚ CỦA SỰ PHỤC SINH
(Cv
10:34a.37-43;
Cl 3:1-4; Ga
20:1-9)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Chúng ta đang tìm kiếm gì trong cuộc sống này? Tiền tài và danh vọng?
Nghề nghiệp và cơm áo? Tình yêu và cảm thông? Ai trong chúng ta cũng có một mục
đích để sống, để tìm kiếm. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta vì quá lo lắng
tìm kiếm những “thực tại dưới đất” mà quên mất rằng mình cũng phải tìm kiếm
những “thực tại trên trời” nơi mà kho tàng của chúng ta không bị mối mọt đục
khoét hay dòi bọ gặm nhấm. Thánh Phaolô trong bài đọc 2 dạy các tín hữu Côlôsê
rằng: “Thưa anh em, anh em đã được
trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi
Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những
gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3:1-2). Thánh Phaolô không có ý nói là chúng ta không quan tâm gì
đến những thực tại trần thế. Chúng ta phải quan tâm. Điều Ngài muốn nói cho
chúng ta là những thực tại trần thế không phải là đích điểm của chúng ta. Chúng
chỉ là những phương tiện để chúng ta đạt đến những thực tại trên trời. Vì vậy,
chúng ta không “ngủ quên” trong những thực tại trần thế mà quên rằng khi chết,
chúng ta phải bỏ chúng lại đằng sau. Chúng ta phải nhớ rằng: “anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức
Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3:3). Mầu nhiệm vượt qua của Chúa
Giêsu phải được thực hiện trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta đã cùng chết
với Chúa Giêsu, chết đi con người cũ của thế gian để sống một cuộc sống mới của
nước trời. Đây chính là ý nghĩa đích thật của Mùa Phục Sinh mà chúng ta bắt đầu
hôm nay và chúng ta được mời gọi hiện thực hoá ý nghĩa đó trong cuộc sống
thường ngày của chúng ta. Nhưng đâu là những dấu hiệu cho tôi biết là tôi đang
sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu?
Việc Chúa Giêsu phục sinh là chân lý tuyệt đỉnh của niềm tin của chúng
ta. Giáo Huấn của Giáo Hội dạy chúng ta rằng: “Đức
Giêsu Phục Sinh là chân lý tuyệt đỉnh của đức tin Kitô giáo, được cộng đoàn tín hữu tiên khởi tin và sống
như là
chân
lý trung tâm,
được
Truyền Thống lưu
truyền như chân lý căn bản, được các văn kiện Tân Ước xác lập, được rao giảng như phần chủ yếu của mầu nhiệm
Vượt
Qua và Thập Giá: Đức Ki-tô từ cõi chết sống lại, Người đã chết để chiến
thắng tử thần và ban
sự sống cho kẻ đã chết” (Sách
GLGHCG, số 638). Nhưng đâu là bằng chứng phục sinh của Chúa Giêsu? Lời Chúa trong các bài đọc hôm nay, nhất là bài đọc 1 và bài Tin Mừng,
trình bày cho chúng ta những “bằng chứng” về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta cùng nhau chia sẻ về
những “bằng chứng” này và rút ra những đặc
điểm cho biết chúng ta đang sống mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giêsu.
Chứng cớ thứ nhất, “những chứng nhân mắt
thấy tai nghe.” Đây là bằng chứng quan trọng nhất mà chúng ta thường đòi hỏi nơi những người làm
chứng. Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta lời chứng của Thánh Phêrô. Trước tiên,
chúng ta tự hỏi: Ở đâu Thánh Phêrô có được sự can đảm để làm chứng cho Chúa
Giêsu nếu không phải đã chứng kiến sự phục sinh của Chúa Giêsu? Người mà trước
khi Chúa Giêsu phục sinh đã hèn nhát chối Ngài ba lần, giờ lại mạnh dạn không
sợ hãi làm chứng cho Ngài: “Còn chúng tôi đây xin làm
chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do thái và tại chính
Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên
Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không
phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển
chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã
được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10:39-41). Chứng cớ thứ nhất mời gọi chúng ta học từ Thánh Phêrô và các tông đồ khác,
biết làm chứng cho Chúa Giêsu cách không sợ hãi qua một đời sống mới, một đời
sống đụng chạm đến tình yêu của Ngài trong đời sống phụng vụ và cầu nguyện,
trong đời sống phục vụ và yêu thương, trong đời sống tha thứ và cảm thông. Đây
là dấu hiệu đầu tiên cho biết chúng ta đang sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa
Giêsu: Làm chứng cho Chúa Giêsu qua đời sống tốt lành, thánh thiện của mình.
Chứng cớ thứ hai, “ngôi mộ trống.” Theo truyền thống của Giáo Hội, hình
ảnh “ngôi mộ trống” là một trong những chứng cớ quan trọng về sự phục sinh của
Chúa Giêsu. Chúng ta trích ở đây Giáo Huấn của Giáo Hội trình bày về chứng cớ
này: “Trong biến cố phục sinh, yếu tố đầu tiên
mà ta gặp là ngôi
mộ trống, Tự nó, sự kiện này không phải là một bằng
chứng trực tiếp. Việc thân
xác Đức Kitô
không
còn trong mộ có thể được
giải thích cách khác (x. Ga
20:13; Mt
28:11-l5).
Dầu vậy, mọi người
đều coi ngôi mộ trống là dấu chỉ chủ yếu. Việc phát hiện mộ trống
là bước
đầu dẫn các môn đệ đến việc nhìn nhận chính sự kiện Chúa sống
lại. Đó là trường
hợp các phụ nữ đạo đức (x. Lc
24:3,22-23),
tiếp đến là Phêrô (x. Lc
24:l2).
Khi vào trong mồ trống và thấy “những
băng vải để ở đó”
(Ga 20:6), người môn đệ Đức Giêsu yêu
quý” (Ga
20:2)
khẳng định rằng: “Ông đã thấy và ông đã tin” (Ga 20:8). Điều này giả thiết
rằng: khi thấy mộ trống (x. Ga
20:5-7),
ông
nhận ra việc mất xác Chúa không phải là do loài người, và Đức Giêsu đã
không đơn gian trở lại cuộc sống trần thế như trường hợp Ladarô vậy (x.Ga
11,44)” (Sách GLGHCG, số 640). Thánh Gioan
trong bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hay rằng, Phêrô và người môn đệ được
Chúa Giêsu yêu mến không tin và không hiểu phục sinh là gì cho đến khi nhìn thấy
ngôi mộ trống: “Ông Simôn Phêrô theo sau
cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn
che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp
riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn
đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy,
trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ
cõi chết” (Ga 20:6-9).
Ngoài hai chứng cớ trên, chúng ta còn có chứng cớ thứ ba là những lần
hiện ra của Chúa Giêsu. Chứng cớ [thứ ba] sẽ được tường thuật trong những bài
Tin Mừng của các Chúa Nhật Phục Sinh. Giờ đây, chúng ta cùng nhau suy gẫm về
Lời Chúa trong bài Tin Mừng để nghe Chúa muốn nói gì với chúng ta.
Bài Tin Mừng trình thuật cho chúng ta phản ứng đầu tiên của ba nhân vật
“thân tín” của Chúa Giêsu: Maria Mácđala, Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu yêu
mến. Như chúng ta đã biết, Thánh Gioan thường sử dụng hình ảnh “tương phản”
trong Tin Mừng của mình. Chúng ta nhận ra điều này ngay trong câu đầu tiên: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20:1). Hình ảnh này được Thánh Gioan dùng ngay trong những câu đầu tiên của Tin
Mừng của mình để nói về Ngôi Lời như là sự sống và sự sáng của thế gian, sự
sáng mà bóng tối không thể diệt (x. Ga 1:1-18). Vì vẫn còn bị “bóng tối” của
thập giá che phủ, Maria Mácđala đã không nhận ra Chúa Giêsu đã phục sinh. Bà
chỉ dừng lại ở việc “người ta đã đem Chúa đi khỏi
mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (Ga 20:20). Đối với bà Maria Mácđala, Chúa Giêsu vẫn là một “xác chết”
mà người khác đã lấy đi để ở chỗ khác. Nói cách cụ thể hơn, đối với bà, sự thay
đổi của Chúa Giêsu ở đây chỉ là sự thay đổi “chỗ đặt” hay “chỗ ở” chứ không
phải là sự thay đổi mang tính phục sinh nào. Điều này có ý nghĩa gì với chúng
ta? Điều này hàm ý dạy chúng ta rằng, chúng ta cũng đã nhiều lần thay đổi “chỗ
ở” [chủ động] hoặc “bị đặt nơi khác” [bị động], nhưng chúng ta không có tí thay
đổi nào trong đời sống của mình. Chúng ta vẫn ở lại trong tình trạng của “những
cái xác” không hồn, không có yêu thương và tha thứ. Chúng ta có nhiều thay đổi
bên ngoài, nhưng chúng ta không
“phục sinh,” thay đổi để sống một đời sống có ý nghĩa hơn. Những người sống mầu
nhiệm phục sinh là những người sống một đời sống thay đổi để trở nên tốt hơn,
yêu thương hơn, tha thứ hơn và thánh thiện hơn cả bên trong lẫn bên ngoài.
Hình ảnh thứ hai mà bài Tin Mừng đề nghị cho chúng ta suy gẫm là hình ảnh
“chạy đua” của Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến: “Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy” (Ga 20:3-4).
Như chúng ta biết, trình
thuật về sự Phục Sinh của thánh Gioan bắt đầu với cuộc chạy đua mang tính huyền
nhiệm của hai tông đồ đến mộ. Theo các học
giả Kinh Thánh, câu chuyện này có lẽ có ý định trình bày cho chúng ta sự
căng thẳng giữa “đặc sủng” và “chức vụ”, một sự căng thẳng nội tại trong cộng đoàn của Thánh Gioan, trong Giáo Hội thời đó [và bây giờ]. Đồng
thời, cuộc chạy đua này cũng
ám chỉ đến việc nhắc nhở cho chúng ta về
các cuộc “chạy đua” chúng ta có trong cuộc sống. Nói cách khác, cuộc chạy đua
giữa Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến ám chỉ dạy chúng ta rằng:
trong cuộc sống có nhiều cuộc chạy đua, tuy nhiên, chỉ có một loại “tranh đua” chính đáng để thực hiện, đó là sự cạnh
tranh để đi theo sát Chúa Giêsu hơn, để có một đức tin sâu hơn, và để có một đời sống sẵn sàng trao ban và phục vụ trong yêu thương hơn.