Suy niệm Lời Chúa: Thứ Sáu tuần 25 Thường niên năm B
ĐỐI VỚI TỐI, CHÚA GIÊSU LÀ AI?
(Gv 3:1-11; Lc 9:18-22)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Tác giả của sách Giảng Viên trình bày cho chúng ta
mọi sự dưới bầu đều có thời của chúng, không có gì là vĩnh viễn. Hay nói cách
khác, mọi sự xảy ra đều có ý nghĩa của chúng: “Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời: một thời để chào đời, một thời để lìa
thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để
chữa lành; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng; một thời để khóc lóc, một thời để vui
cười; một thời để than van, một thời để múa nhảy; một thời để quăng đá, một thời để
lượm đá; một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn; một thời để kiếm tìm, một thời để
đánh mất; một thời để giữ lại, một thời để vất đi; một thời để xé rách, một thời để vá
khâu; một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng; một thời để yêu thương, một thời để
thù ghét; một thời để gây chiến, một thời để làm hoà” (Gv 3:1-8). Nhìn lại cuộc
sống của mình, chúng ta thấy mỗi người cũng đã kênh qua những thời khắc khác nhau. Ngay cả trong một
ngày sống, có khi chúng ta vui, có khi lại buồn, có khi quảng đại nhưng
cũng có khi keo kiệt. Mỗi sự kiện xảy ra nối kết với nhau để tạo nên ý nghĩa
của ngày sống. Chúng ta thường nghe, “không ai giàu ba họ mà cũng không ai khó
ba đời.” Có chăng điều quan trọng là thái độ của chúng ta trước những sự kiện
xảy ra trong cuộc sống như thế nào. Nếu luôn tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa, chúng
ta sẽ nhận ra rằng: “Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời
đúng lúc. Thiên Chúa cũng ban cho con người biết nhận thức về vũ trụ, tuy thế,
con người cũng không thể nào hiểu hết được ý nghĩa công trình Thiên Chúa thực
hiện trong lịch sử” (Gv 3:11). Mọi sự xảy ra
đúng thời đúng lúc hầu theo thánh ý Ngài. Chỉ với con mắt đức tin chúng ta mới
nhận ra được điều này vì dù trí hiểu chúng ta có siêu phàm đến đâu, chúng ta
cũng không thể hiểu được mầu nhiệm thánh ý Thiên Chúa. Vì vậy, chúng ta cần
phải vui trồng thái độ tín thác yêu thương, hoàn toàn đặt mình trong bàn tay
hiền từ quan phòng của Thiên Chúa.
Như chúng ta đã thấy trong bài
Tin Mừng hôm qua việc Hêrôđê “tò mò” để biết Chúa Giêsu là ai. Câu hỏi của ông
được trả lời trong Tin Mừng hôm nay. Chi tiết đầu tiên mà chúng ta cần lưu ý
trong hành trình “tìm cách để biết Chúa Giêsu” là việc “ở lại với Chúa Giêsu”:
“Hôm ấy, Đức Giêsu cầu nguyện
một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người” (Lc 9:18). Các môn đệ cũng ở
đó, trong giây phút cầu nguyện với Chúa Giêsu. Nói cách khác, Chúa Giêsu và các
môn đệ đang cùng thực hiện một hành động, đó là cầu nguyện – kết hiệp mật thiết
với Chúa Cha. Chính trong giây phút kết hiệp với Chúa Cha mà Chúa Giêsu “ý
thức” mình là ai và như thế Ngài hỏi các môn đệ xem họ có biết Ngài là ai
không: “Người hỏi các ông
rằng: ‘Dân chúng nói Thầy là ai? Các ông thưa: ‘Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì
bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại.’ Người lại hỏi: ‘Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?’ Ông Phêrô thưa: ‘Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.’Nhưng Người nghiêm giọng truyền các ông không được
nói điều ấy với ai” (Lc 9:18-21). Trong những lời này, chúng ta
nhận ra hai giai đoạn trong việc đạt đến “kiến thức” chính xác về căn tính của
Chúa Giêsu. Giai đoạn 1 là “biết về” Chúa Giêsu. Trong giai đoạn này, kiến thức
được thu tập qua việc lắng nghe [hoặc đọc] những người biết về Chúa Giêsu.
Chúng ta thấy điều này giống với bài Tin Mừng hôm qua. Kiến thức thu tập được
trong giai đoạn này cũng quan trọng, nhưng không phản ánh cách trung thực về
Chúa Giêsu vì nó mang tính “lý thuyết.” Giai đoạn 2 bắt đầu với lời mời gọi
“gặp gỡ cá vị.” Giai đoạn này được gọi là giai đoạn “biết Chúa.” Yếu tố quan
trọng trong giai đoạn này là “gặp gỡ cá vị” trong cùng một hành động với Chúa
Giêsu [trong tương quan với Chúa Cha]. Kiến thức đạt được trong giai đoạn này
là “một tương quan” chặt chẽ với Thiên Chúa chứ không phải là một mớ kiến thức
trừu tượng.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải
lưu ý rằng dù chúng ta có được kiến thức chân thật về Chúa Giêsu trong việc gặp
gỡ cá vị của Ngài, kiến thức của chúng ta vẫn giới hạn và chưa hoàn toàn đầy
đủ. Trong câu trả lời của Phêrô, chúng ta nhận thấy một cái nhìn “phiến diện”
về “Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Phêrô và các môn đệ “biết” đúng về Chúa Giêsu là
Đấng Kitô, nhưng “hiểu” chưa đúng về Ngài. Họ hiểu Ngài là Đấng Kitô theo
truyền thống Con Người Vinh Quang trong sách Đanien. Cái hiểu này chưa phản ánh
trung thực về căn tính của Chúa Giêsu, nên Ngài nghiêm giọng truyền các ông
không được nói điều ấy với ai. Để bổ sung cho cái hiểu phiến diện của các môn
đệ, Chúa Giêsu trình bày khía cạnh thứ hai về căn tính của Ngài, đó là Người
Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Isaiah: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục,
thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9:22). Như vậy, một hình
ảnh hoàn hảo về căn tính của Chúa Giêsu được thiết lập, đó là một Đức Kitô đạt
đến vinh quang qua con đường đau khổ, đạt đến phục sinh qua sự chết. Đây là hai
khía cạnh không thể tách rời trong “căn tính” của Chúa Giêsu và cũng là hai yếu
tố không thể tách rời trong đời sống người môn đệ Chúa Giêsu.