Suy niệm Lời Chúa: Thứ Hai tuần I mùa Chay
LÚC
ĐỜI NGÃ BÓNG, CHÚNG TA SẼ BỊ XÉT XỬ TRÊN TÌNH YÊU
(Lv
19:1-2.11-18; Mt
25:31-46)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Ai trong chúng ta cũng muốn sống thánh thiện hay
đúng hơn là muốn nên thánh. Và chúng ta thường thắc mắc và tự hỏi: Thánh thiện
là gì? Chúng ta thường quan niệm thánh thiện là không phạm tội và sự thánh
thiện chỉ dành cho một số ít người “được tuyển chọn.” Tuy nhiên, thánh thiện
không phải là “không phạm tội” vì ai trong chúng ta cũng mang trong mình thân
phận yếu đuối mỏng manh. Thánh thiện là sự ăn năn sám hối không ngừng.
Lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta về đề tài
thánh thiện và cách thức để trở nên thánh thiện. Trong bài đọc 1, “Đức Chúa phán với ông Môsê rằng: ‘Hãy nói với
toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Các ngươi phải thánh thiện,
vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh’” (Lv 19:1-2). Chúng ta tìm
thấy trong câu này điều mà chúng ta phải luôn ý thức: thánh thiện là cho hết
mọi người. Đây là mệnh lệnh của Đức Chúa. Ngài muốn tất cả mọi người nên thánh
chứ không chỉ một số ít người. Để sống thánh thiện, bài đọc 1 đưa ra danh sách
những điều “không được phép làm.”
Điểm đầu tiên chúng ta lưu ý là điệp khúc “Ta là Đức
Chúa” (Lv 19:12,14,16,18). Điệp khúc này được lặp lại sau mỗi lần kết thúc một
chuỗi những hành động chúng ta không được phép làm. Điều này có nghĩa là gì? Nó
có nghĩa là: Động lực để ta tránh những điều làm chúng ta không đạt đến sự
thánh thiện không phải là vì “sợ phạm tội,” nhưng vì “muốn được nên giống Đức
Chúa, là Đấng Thánh” (x. Lv 19:2). Điều đáng buồn là nhiều người Kitô hữu [ngay
cả những người được thánh hiến] xem con đường nên thánh, nhất là đời sống luân
lý, mà Thiên Chúa đòi hỏi [hay Giáo Hội dạy] là gánh nặng của những điều “không
được làm.” Họ quên rằng, những điều “không được làm” chỉ là hệ quả của chọn lựa
nên thánh như Đức Chúa là Đấng Thánh. Giống như một người nam khi chọn một
người nữ làm vợ của mình, thì hệ quả là người nam đó không còn được phép làm
những điều lỗi phạm đến tình yêu dành cho vợ của mình. Việc không được phép làm
những điều lỗi phạm đến đời sống hôn nhân chỉ là hệ quả của “chọn lựa người kia
làm vợ.” Nhìn từ khía cạnh này, những việc “không được làm” mà sách Lêvi trình
bày cho chúng ta chỉ là hệ quả của “chọn lựa sống thánh” như Thiên Chúa của
chúng ta. Chúng ta có thể nhóm “những điều không được phép làm” trong bài đọc 1
thành bốn nhóm [được chia cách bởi điệp khúc “Ta là Đức Chúa”]:
Nhóm thứ nhất trình bày những điều chúng ta không
được phép làm trong tương quan với những người thân, những người “đồng quê
hương” của mình: “Các ngươi
không được trộm cắp, không được nói dối, không được lừa gạt đồng bào mình. Các ngươi
không được lấy danh Ta mà thề gian: làm thế là các ngươi xúc phạm đến danh
Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19:11-12).
Trong nhóm này, tác giả nhấn mạnh đến việc “sống thành thật” [không nói dối,
không lừa gạt, không thề gian] với những người thân của chúng ta. Sống thật với
những người “biết chúng ta” là một thách đố lớn! Hãy sống thật như Chúa Giêsu
mời gọi: “Có thì phải nói có, không thì phải nói không, thêm lời đặt chuyện là
do ma quỷ” (Mt 5:37).
Nhóm thứ hai mở rộng ra đến đồng loại: “Ngươi không được bóc lột người đồng loại, không được
cướp của; tiền công người làm thuê, ngươi không được giữ lại qua đêm cho đến
sáng. Ngươi không được rủa người điếc, đặt chướng ngại cho người mù vấp
chân, nhưng phải kính sợ Thiên Chúa của ngươi” (Lv 19:13-14). Nhóm này nhấn mạnh đến đức công
bình và bác ái, tức là, chúng ta phải trả cho người khác những gì thuộc về họ
và nhất là không tìm cách để hãm hại người khác. Thật vậy, khi gặp những người
đồng loại, không cùng tôn giáo, màu da, ngôn ngữ, sở thích với mình, chúng ta
thường có thái độ “bất công,” hay đúng hơn là không đối xử với họ như họ đáng
được đối xử. Nhóm thứ hai này mời gọi chúng ta hãy đối xử với hết mọi người như
nhau không phân biệt, vì tất cả mọi người là con cùng một Cha ở trên trời và
tất cả là anh chị em của nhau.
Nhóm thứ ba nói đến những điều mà những người có
trách nhiệm trên người khác phải lưu ý: “Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử:
không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý,
nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào. Ngươi không được vu khống
những người trong dòng họ, không được ra toà đòi người đồng loại phải chết” (Lv 19:15-16). Những người có quyền thường có xu
hướng đối xử thiên vị: kiêng nể và nhẹ tay với những người thân và có địa vị và
vu khống cho những người cô thế cô thân. Những người này được mời gọi sống liêm
khiết và không thiên vị. Họ phải có một tình yêu chan hoà dành cho mọi người
như nhau.
Nhóm thứ tư là bản tóm tắt của tất cả điều được
trình bày trên: “Ngươi không
được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào,
như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. Ngươi không được trả thù, không
được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19:17-18). Câu tóm tắt được tìm thấy trong câu
cuối cùng: câu này là đỉnh cao của luật yêu thương trong Cựu Ước. Chi tiết làm
chúng ta không ngạc nhiên ở đây là: sau một danh sách dài của những “mệnh lệnh
tiêu cực” (không được làm) là một “mệnh lệnh tích cực” (điều phải làm), đó là
hãy yêu người khác như chính mình. Điều này đưa chúng ta về với điều chúng ta
đã trình bày ở trên: tất cả những điều “không được phép làm” chỉ là hệ quả của
chọn lựa sống thánh của chúng ta. Trong trường hợp này, danh sách không được
làm trên chỉ là hệ quả của chọn lựa “yêu đồng loại như chính mình.” Như vậy,
đừng để ý đến những điều không được phép làm, những điều phải từ bỏ, nhưng hãy
tìm niềm vui nơi chọn lựa “sống thánh, sống yêu thương, sống tha thứ” của mình,
thì những điều không được phép làm kia sẽ trở thành nhẹ nhàng và êm ái.
Về phần mình, Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay
đưa ra những việc làm rất cụ thể để nên thánh. Theo Ngài, chính những công việc
tốt và đơn giản hằng ngày mà chúng ta làm cho người khác là tiêu chuẩn để đo
lường sự thánh thiện và cũng là điều mà qua đó Thiên Chúa sẽ xét sử chúng ta
vào ngày sau hết. Theo các học giả Kinh Thánh, đoạn Tin Mừng này là kiệt tác
đỉnh cao và cũng là bài giảng quan trọng cuối cùng trong cuộc đời rao giảng
công khai của Chúa Giêsu. Chúng ta chỉ tìm thấy đoạn Tin Mừng này trong Tin
Mừng của Thánh Mátthêu. Chúng ta cũng tìm thấy trong đoạn Tin Mừng này sự tương
phản giữa phúc và họa: nếu làm thì được phúc, không làm thì bị hoạ.
Những công việc nào Chúa Giêsu muốn chúng ta thực
hiện để được vào hưởng sự sống đời đời, để nên thánh? Đó là: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các
ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng,
các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các
ngươi đến hỏi han” (Mt 25:35-37). Đây là sáu trong
bảy công việc “thương xác” [corporeal works of mercy] mà truyền thống của Giáo
Hội đề ra cho chúng ta thực hiện. Tất cả những công việc này hoàn toàn nhắm đến
việc đáp ứng nhu cầu thể lý [thân xác] của người khác. Như vậy, sự thánh thiện
không chỉ dành riêng cho linh hồn, mà cho cả toàn bộ con người, trong đó thân
xác là một phần quan trọng. Đừng đối xử với người khác như “hồn không xác” hay
đúng hơn là “thuần thiêng liêng.” Hãy đối xử với họ như những nhân vị có thân
xác “sẽ được sống lại trong ngày sau hết.” Hãy chăm sóc nhu cầu sức khoẻ [thể
lý] cho người khác.
Một chi tiết khác chúng ta cần lưu ý là việc những
người công chính và những người bị chúc dữ cùng hỏi lại “Đức Vua” về những việc
mình làm và không làm: “Lạy Chúa, có
bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn [không cho ăn], khát mà cho uống [không cho uống]; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước [không tiếp rước]; hoặc trần truồng mà cho mặc [không cho mặc]? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu
hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu [không đến hỏi
han]?” (Mt 25:37-39//44-45). Chúng ta thấy rõ ràng ở đây
họ chỉ đơn giản làm việc tốt hoặc không làm việc tốt mà không ý thức rằng họ
làm cho Chúa Giêsu. Đây chính là điều làm chúng ta được an ủi, nhưng cũng là
điều làm chúng ta đáng phải lo sợ vì những việc tốt chúng ta làm hoặc không làm
cho người khác, dù không phải vì danh Chúa Giêsu, sẽ trở thành điều để chúng ta
được Đức Vua khen thưởng hay luận phạt. Hãy làm điều tốt mọi nơi, mọi lúc và
cho mọi người.
Điểm cuối cùng chúng ta cùng nhau suy gẫm là việc
Chúa Giêsu đồng hoá chính mình với những người cần chúng ta giúp đỡ: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế
[không làm như thế] cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây,
là các ngươi đã làm [không làm] cho chính Ta vậy” (Mt 25:40//45). Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II (trong thông điệp Redemptor
Hominis [“Đấng Cứu Chuộc Con Người”]) dạy chúng ta rằng: Khi nhập thể làm
người, Chúa Giêsu đã đồng hoá chính mình với mỗi con người trong mọi không gian
và thời gian. Chính trong bối cảnh này mà chúng ta hiểu lý do tại sao Chúa
Giêsu đồng hoá việc phục vụ người túng thiếu là diễn tả tình yêu dành cho Ngài.
Như vậy, điều quan trọng là liệu chúng ta có nhận ra Ngài trong những người cần
đến tình thương và sự giúp đở của chúng ta không?