Suy niệm Lời Chúa: Lễ Thánh PhaoLô Tông Đồ Trở Lại
ĐỐI VỚI TÔI, SỐNG LÀ ĐỨC KITÔ
(Cv 22:3-16; Mc 16:15-18)
Lm. Antôn
Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Hôm nay cùng với Giáo
Hội, chúng ta mừng kính Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại. Trong bài đọc 1, thánh
nhân kể lại câu chuyện cảm động về cuộc đời của mình, cuộc đời của một người
tìm thấy Chúa Giêsu trong chính nghịch lý của cuộc sống. Từ câu chuyện “trở
lại” [“metanoia”] của Phaolô, chúng ta rút ra được những điểm sau cho ngày sống
của mình:
(1) Cuộc gặp gỡ với Chúa
làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của Thánh Phaolô: Từ người “bắt bớ Đạo
này [Chúa], không ngần
ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà” (Cv 22:4) đến người làm
chứng cho Chúa. Chi tiết này mang lại cho những tội nhân, cũng như những người
xem mình “không xứng đáng” với ơn Chúa, một niềm hy vọng và lạc quan. Thật vậy,
Chúa có thể sử dụng những con người “tội lỗi” để nên khí cụ để mang tình yêu
của Ngài cho người khác. Chúa đã sử dụng một Phaolô, là người bắt bớ Chúa để
trở nên tông đồ cho dân ngoại. Ngài không thể sử dụng tôi, một người “thánh
thiện hơn” Phaolô vì không bắt đạo [có thể không sống đạo thôi!], để trở nên
khí cụ mang tình yêu của Ngài cho gia đình (cộng đoàn) của tôi sao? Hãy cho
Chúa Giêsu cơ hội để biến đổi chúng ta!
(2) Ngã xuống đất: “Tôi ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với tôi:
‘Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta ?’ Tôi đáp : ‘Thưa Ngài, Ngài là ai ?’ Người nói với
tôi: ‘Ta là Giê-su Na-da-rét mà ngươi đang bắt bớ’,” (Cv 22:7-9). Chính “cú ngã” đã làm cho Phaolô “thức tỉnh.” Chúng ta
cũng đã có nhiều “cú ngã” trong cuộc sống. Nhưng chúng ta đã không “thức tỉnh.”
Chúng ta để cho những “cú ngã” đó làm chúng ta mất phương hướng, mất sự nhiệt
thành, mất niềm vui và trở nên chua chát với đời. Thay vì tìm thấy Chúa và nghe
được tiếng Chúa nói với chúng ta qua từng “cú ngã,” chúng ta để chính mình ngã
quỵ và không đứng lên nổi để tiếp tục hành trình của mình đến nơi mà Chúa [qua
người khác] sẽ nói cho chúng ta nghe việc chúng ta phải làm cho Ngài. Hãy biết
lắng nghe và thức tỉnh sau mỗi “cú ngã” trong cuộc đời của chúng ta!
(3) Từ việc dắt người
khác đi bắt bớ Chúa, đến việc để người khác dắt vào Đamát để biết “tất cả những
gì Thiên Chúa đã chỉ định cho anh phải làm” (Cv 22:10). Điều này đưa chúng ta
trở về với thực tại của những người môn đệ, đó là những người “đi theo” chứ
không phải là những người “đi trước.” Có nhiều lúc trong cuộc sống, chúng ta
quá quen với việc “dẫn” người khác đến độ chúng ta quên mất rằng chúng ta cũng
cần người khác [nhất là Chúa] dắt chúng ta. Đôi khi vì kiêu ngạo và thiếu khiêm
nhường, chúng ta không để người khác dắt chúng ta, dù chúng ta đang “lầm đường
lạc lối.” Học ở Thánh Phaolô, hãy khiêm nhường để người khác [Chúa] dắt chúng
ta. Vì chỉ trong những giây phút đó, chúng ta mới biết được “tất cả những gì
Thiên Chúa đã chỉ định cho anh chị em phải làm.”
(4) “Quả vậy,
anh sẽ làm chứng nhân cho Đấng ấy trước mặt mọi người về các điều anh đã thấy
và đã nghe” (Cv 22:15). Thánh Phaolô phải làm chứng cho Chúa về những điều ngài thấy và nghe!
Nhưng ngài đã thấy gì? Đã nghe gì? Theo suy đoán dựa trên Kinh Thánh và dữ liệu
lịch sử, Thánh Phaolô chịu tử đạo với Thanh Phêrô ở Rôma. Như vậy, tuổi của
ngài không kém Thánh Phêrô và các tông đồ khác bao nhiêu. Theo cách suy đoán
này, thì chắc chắn Ngài có nghe nói hoặc có thể đã nhìn thấy Chúa Giêsu khi
Ngài còn sống. Chính vì vậy, khi nghe Chúa Giêsu gọi tên và nói với mình về kế
hoạch mà Thiên Chúa muốn ngài thực hiện. Ngài đón nhận “lập tức” mà không chất
vấn gì. Còn trong bài đọc 1, thánh nhân kể cho chúng ta nghe rằng: Ngài bị ánh
sáng làm cho mù mắt – Ngài thấy ánh sáng và bóng tối. Ngài nghe tiếng Chúa
Giêsu gọi tên và “khiển trách” mình. Điều này gợi cho chúng ta câu chuyện về
Chúa Giêsu gọi các tông đồ: Gọi tên và đáp trả. Thật vậy, Thánh Phaolô đã nghe
tên mình được gọi và đã nhìn thấy ánh sáng từ trời và Ngài đã làm chứng về điều
đó. Ngài làm chứng về một tình yêu đã đụng chạm đến ngài cách cá vị; ngài làm
chứng về một ánh sáng đã phá tan đi bóng tối trong con tim của ngài để nhìn thấy
trên khuôn mặt của những người mình bắt bớ hình ảnh của Đức Kitô. Những ai có
ánh sáng của Chúa chiếu toả trong tâm hồn mới có khả năng nhìn thấy Chúa Giêsu
trong những người mình không thích và không yêu mến.
Giáo Hội chọn phần kết luận của Tin Mừng từ Thánh Máccô về mệnh
lệnh rao giảng cho muôn dân để đọc trong ngày hôm nay để nói lên sức mạnh của
Tin Mừng có thể biến đổi con người. Theo các học giả Kinh Thánh, đoạn Tin Mừng này là phần kết
thúc được thêm vào sau này [có thể vào thế kỷ thứ 2] vì nó khác biệt trong kiểu
viết và ngôn từ so với những phần khác của Tin Mừng. Họ cho rằng đoạn này được
dựa cách chính yếu trên Tin Mừng của Luca và một phần của Tin Mừng Gioan. Dù được
thêm vào sau này vì bản văn kết thúc ở Mc 16:1-8 là không đầy đủ. Trước đoạn
này là các cuộc hiện ra (Mc 16:9-14) và sau đoạn này là việc lên trời của Chúa
Giêsu (Mc 16:19-20). Ở giữa việc hiện ra của Chúa Giêsu và lên trời của Ngài là
lệnh truyền đi rao giảng. Điều này đưa chúng ta về với điều Thánh Gioan viết
trong thư của Ngài: Chúng tôi loan báo cho anh chị em những gì chúng tôi đã
nghe, những gì chúng tôi đã thấy, những gì chúng tôi đã chạm đến.
Điểm gây chú ý cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay là
lời hứa của Chúa Giêsu về những dấu lạ sẽ đi theo những người đi rao giảng: “Đây là những
dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ
nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc
độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người
này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16:17-18). Đây chính
là nét đặc trưng của Tin Mừng của Thánh Máccô. Chúng ta thấy, tất cả những dấu
lạ này là những điều Chúa Giêsu đã làm trong phần đầu của Tin Mừng của Ngài.
Bây giờ, khi Ngài không còn ở lại với họ cách thể lý, Ngài trao những quyền đó
cho các môn đệ. Điều này có nghĩa là: Người môn đệ của Chúa Giêsu khi được sai
đi không làm gì ngoài việc làm những gì mà Chúa Giêsu đã làm. Thật vậy, chúng
ta là những người mang sứ điệp tin mừng, chúng ta không phải là sứ điệp. Đừng để
cho cái bóng của chúng ta che mất sứ điệp mà chúng ta đã lãnh nhận từ Chúa
Giêsu để rơi vào mối nguy hiểm là loan truyền sứ điệp của mình hơn là của Chúa.