Thích, yêu và ...
Anawim
Thích thì làm, thích
thì chiều, thích thì nhích, … là những cách mà người trẻ giải thích
cho hành động của mình.
Một số lần Kinh Thánh cũng
dùng từ “thích” để diễn tả “cảm xúc” của Chúa: “Chúa ưa thích điều công minh
chính trực” (Tv 33,5), “phải chăng ĐỨC CHÚA ưa thích ...?” (Mk
6,7), “anh em chớ quên làm việc từ thiện, giúp đỡ lẫn nhau, vì Thiên Chúa ưa thích những
hy lễ như thế.” (Dt 13,16). Chúa Giê-su trong đoạn Tin mừng Mc 12, 38-44 dùng từ
thích để nói về thái độ của một số kinh sư: “ưa dạo quanh, … thích được
người ta chào hỏi, ... ưa chiếm ghế … thích ngồi cỗ nhất...” (x.Mc 12, 38-39)
Thích là cảm
giác bằng lòng, dễ chịu và vui khi tiếp xúc với một người, một vật, hay một việc
gì đó. Tự bản chất, đó là một cảm xúc tích cực để thúc đẩy con người hoạt động
mà không cần dùng nhiều đến ý chí. Nhưng nó là thứ động lực không bền: thích
thì đến, không thích thì đi. Nếu không chú ý, chúng ta dễ lạm dụng cảm giác
này để sống theo chủ nghĩa cá nhân mà không cần quan tâm hay ý thức về ảnh hưởng
của việc “thích thì …/ không thích thì …”
đối với người khác và thiên nhiên.
Có một thứ tình cảm
tích cực và bền vững hơn: Trong Kinh Thánh1 chữ thích
xuất hiện 269 lần, nhưng chữ yêu được dùng 461 lần. Yêu
là thứ tình cảm thúc đẩy người ta hành động mạnh mẽ hơn, vượt qua khó khăn, hi
sinh, từ bỏ vì người, việc, hay vật mình yêu. Do tính bền vững, nó đòi hỏi sự nỗ
lực của ý chí, chứ không nhẹ nhàng như chỉ thích mà thôi.
Câu chuyện Tin mừng kể:
“có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền”: có thể họ làm vì yêu, nhưng có khả năng
họ làm vì thích nhiều hơn, vì họ rút từ “tiền dư bạc thừa” để dâng cúng – không
cảm thấy tiếc khi phải từ bỏ, không cảm thấy mất mát gì và việc dâng cúng đó có
thể khiến người khác phải nể - đó có thể là sở thích của họ.
Trong khi đó, bà góa
nghèo dâng cúng 2 đồng tiền kẽm thì chắc hẳn bà làm vì yêu: bà dâng tất cả những
gì mình có. Tình yêu thúc đẩy bà hành động mà không sợ bị người ta chê cười là
dâng có bấy nhiêu thôi. Khi yêu, người ta không tính toán được mất cho mình hay
cho người: ta được nhờ người thì biết người yêu ta, ta mất cho người thì vì ta
yêu họ. Tất cả đều là của chung. Bà góa không coi việc dâng cúng là mất mát, mà
chỉ là sự “đổi chỗ” – nó vẫn nằm trong cái chung của bà với Chúa.
Tình yêu Thiên Chúa
dành cho con người luôn là hằng số - không thay đổi - nhưng cảm nhận của con
người về tình yêu thì có thể biến động theo hoàn cảnh: khi nhận được những ơn
lành, ta dễ tin rằng mình được Chúa yêu, nhưng khi khó khăn dồn dập đổ xuống,
liệu ta có luôn cảm nhận là mình được yêu?
Bà góa hôm nay đối diện
với một ngõ cụt: hai đồng tiền kẽm thì sống sao? Và rồi chỉ có bấy nhiêu để
dâng cúng cho Thiên Chúa nữa? Lúc này, tình yêu tự nó sản sinh ra một thái độ để
nâng đỡ khi tình yêu biến động. Đó là tin. Nhờ đó, bà dâng cho Chúa tất
cả những gì bà có - tất cả những gì nuôi sống mình. Động từ “tin” xuất
hiện 1128 lần2 – Con số vượt trội so với yêu và thích
cho thấy tầm quan trọng của nó. Lòng tin vào Thiên Chúa giúp ta cam đảm bước đi
ngay trong đêm tối, là những lúc “giác quan không cảm thấy gì”3 vì
tin chắc rằng: Chúa dẫn dắt và uốn nắn lịch sử đời mình với tình yêu quan
phòng.
Bạn cứ thích, cứ yêu, nhưng khi bấy nhiêu không đủ để bạn sống cho ý nghĩa, thì bạn biết mình còn Đức Tin. Chúng ta xin Chúa cho mình có đức tin, dù bằng hạt cải, để luôn sống vui vì thích, sống hạnh phúc vì yêu và sống ý nghĩa nhờ tin.
---
1,2/ Kinh Thánh trọn bộ
Theo bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
3/ Đây nhiệm tích 1, Kim Long