Suy niệm Lời Chúa; Thứ Sáu tuần II Phục Sinh
CHÚA GIÊSU: BÁNH HẰNG SỐNG
(Cv 5:34-42; Ga 6:1-15)
Lm. Antôn
Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Bài đọc 1 tiếp tục trình
bày cho chúng ta cuộc họp của Thượng Hội Đồng để xét xử Phêrô và các môn đệ.
Điều làm chúng ta suy gẫm là lời nói của Gamaliên và sự vui mừng của các Tông
Đồ vì được chịu khổ nhục vì danh Chúa Giêsu. Trong hình ảnh của Gamaliên, “một kinh sư được toàn dân kính trọng” (Cv 5:34), chúng ta
thấy Thiên Chúa ban cho ngay cả những người chống đối sự khôn ngoan để bảo vệ
những chứng nhân của Ngài. Lời nói của ông đã thuyết phục Thượng Hội Đồng.
Những lời đáng suy gẫm của ông là: “Vậy giờ đây, tôi xin nói với quý vị: hãy để mặc những người này. Cứ cho
họ về, vì nếu ý định hay công việc này là do người phàm, tất sẽ bị phá huỷ; còn nếu quả thật là do Thiên Chúa, thì quý vị
không thể nào phá huỷ được; không khéo quý vị lại thành những kẻ chống Thiên
Chúa” (Cv
5:38-39). Trong những lời này, chúng ta
đọc thấy một sự thật là: sự gì đến từ Thiên Chúa sẽ trường tồn, còn những gì
đến từ con người sẽ chóng qua như cây cỏ; những gì đến từ Thiên Chúa thì dù con
người có muốn phá huỷ cũng không thể, còn những gì do người phàm thì tự nó sẽ
bị diệt vong. Những chi tiết này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc
tìm kiếm những gì thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta không cần phải ghen tỵ và so
sánh với sự hưng thịnh của người khác, vì nếu điều đó đến từ Thiên Chúa thì
chúng ta không bao giờ có thể dập tắt, còn nếu là của người phàm, thì nó sẽ tự
sụp đổ, chúng ta không cần phải
bận tâm.
Chi tiết thứ hai chúng ta
có thể suy gẫm là thái độ của các Tông Đồ khi bị ngược đãi vì danh Chúa Giêsu:
“Họ cho gọi các Tông Đồ
lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giêsu, rồi thả các
ông ra. Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là
xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5:40-41). Các Tông Đồ vui không phải vì bị đánh đòn hoặc cấm giảng dạy, nhưng hân
hoan vì cảm thấy mình được coi là những người xứng đáng chịu khổ nhục vì danh
Chúa Giêsu. Chính vì niềm vui này mà các Tông Đồ tiếp tục “vâng phục Thiên Chúa
hơn người phàm,” nên “mỗi ngày,
trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng
về Đức Kitô Giêsu” (Cv 5:42). Chi tiết này mời gọi
chúng ta nhìn lại thái độ của mình khi chúng ta đối diện với đau khổ và những
thử thách trong cuộc sống. Những giây phút ấy, chúng ta có thấy mình gần Chúa
không? Chúng ta có cảm thấy hãnh diện vì được xem là xứng đáng chịu khổ nhục vì
danh Đức Giêsu không? Hay chúng ta cảm thấy xấu hổ khi chịu đau khổ vì danh
Ngài?
Bài Tin Mừng hôm nay bắt
đầu bài giảng của Chúa Giêsu về bánh hằng sống (Ga 6:1-71). Đây là một trong
những chương dài trong Tin Mừng Thánh Gioan. Bài giảng này có sự tương đồng với
những sự kiện được Thánh Máccô thuật lại trong 6:30-54 và 8:11-33. Những sự
kiện đó bao gồm: (1) hoá bánh cho năm ngàn người ăn (Ga 6:1-15; Mc 6:30-44);
(2) Chúa Giêsu đi trên biển (Ga 6:16-24; Mc 6:45-54); (3) đòi một dấu lạ (Ga
6:25-34; Mc 8:11-13); (4) bình luận về bánh hằng sống (Ga 6:35-59; Mc 8:14-21);
(5) lời tuyên xưng của Phêrô (Ga 6:60-69; Mc 8:27-30); (6) [tiên báo về] cuộc
thương khó (Ga 6:70-71; Mc 8:31-33). Những hình ảnh [biểu tượng] về Chúa Giêsu
như Đấng cung cấp “nước hằng sống” trong chương 4 và bánh từ trời được phát
triển cùng với nền Kitô học của Thánh Gioan như một vị vua – ngôn sứ theo Môsê.
Đối với thánh sử, toàn bộ câu chuyện về bánh hằng sống trở thành một cuộc đối
diện khác giữa đám đông không tin và Đấng đến từ trời với lời ban sự sống. Cấu
trúc của bài Tin Mừng hôm nay như sau: (1) bối cảnh xa (Ga 6:1-4); (2) bối cảnh
gần: Chúa Giêsu đối thoại với các môn đệ (Ga 6:5-10); (3) Chúa Giêsu thực hiện
phép lạ (Ga 6:11-13); (4) phản ứng của dân chúng và hành động của Chúa Giêsu
sau phép lạ (Ga 6:14-15). Chúng ta cùng nhau suy gẫm trên những điểm mà cấu
trúc Tin Mừng đã gợi ý cho chúng ta.
Trước tiên, chúng ta cần
lưu ý rằng Thánh Gioan đã nới rộng phần giới thiệu bằng việc thêm vào đó những
chi tiết sau: (1) một cột móc không rõ ràng về thời gian [“sau những điều
này”]; (2) một nơi chốn cụ thể [“bên kia
Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Tibêria.”]; (3) động lực của đám
đông tìm đến Chúa Giêsu [“Có đông đảo
dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm
cho những kẻ đau ốm.”]; (4) thời điểm quy chiếu [“Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do Thái.”]. Trong phần này, điều đáng để chúng ta suy gẫm là
động lực của đám đông đến với Chúa Giêsu. Thánh Gioan trình bày rõ ràng cho
chúng ta là đám đông đến với Chúa Giêsu vì họ thấy ‘những dấu lạ người làm cho
những kẻ đau ốm,’ nói cách khác là họ nhìn thấy Chúa Giêsu chữa lành những kẻ
đau ốm. Như chúng ta biết, một trong những hành động quan trọng trong Tin Mừng
Thánh Gioan là ‘thấy.’ Tuy nhiên, ‘thấy’ chỉ mới là bước đầu của tin. Đám đông
đến với Chúa Giêsu chỉ vì ‘thấy’ Ngài thực hiện những dấu lạ chứ chưa biết và
tin Ngài. Điều này được chỉ rõ trong phần kết của bài Tin Mừng, đó là họ chỉ
nhận ra Ngài như một vị ‘ngôn sứ’ giống như Môsê, người đã cho dân Israel bánh
ăn trong sa mạc. Chúng ta cũng đến với Chúa mỗi ngày [hoặc mỗi tuần], nhưng
động lực của chúng ta là gì? Nhiều người trong chúng ta đã ‘thấy’ nhiều dấu lạ
Chúa thực hiện mỗi ngày trong cuộc đời của mình [hay của người thân], nhưng
chúng ta đã đóng cửa lòng mình lại, chúng ta không nhận ra Ngài và đặt trọn
niềm tin yêu phó thác vào tay Ngài. Chúng ta chỉ đến với Chúa chỉ vì chúng ta
cần những nhu cầu của mình được đáp ứng, chứ chúng ta không đến với Ngài vì tin
yêu Ngài.
Bối cảnh gần của phép lạ
là một cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các môn đệ, cụ thể là với Philipphê và
Anrê. Chúng ta viết lại cuộc đối thoại này như sau:
Chúa Giêsu [“Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo
dân chúng đến với mình. Người hỏi
ông Philípphê]: “Ta mua
đâu ra bánh cho họ ăn đây?” [“Người nói
thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi].
Ông Philípphê: “Thưa, có mua đến hai trăm quan
tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.”
Anrê: “Ở đây có
một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì
thấm vào đâu!”
Chúa Giêsu: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống
đi.” [Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống,
nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn].
Trong phần phép lạ, chúng
ta đọc thấy như sau: “Vậy, Đức
Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá
nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. Khi họ đã
no nê rồi, Người bảo các môn đệ: ‘Anh em thu
lại những miếng thừa kẻo phí đi.’ Họ
liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại,
và chất đầy được mười hai thúng” (Ga 6:11-13). Điều đáng để chúng ta lưu ý
là sự tương phản và tiếp nối giữa hành động của Chúa Giêsu và các môn đệ. Trong
Tin Mừng Thánh Gioan, chính Chúa Giêus là người phân phát cho dân chúng bánh và
cá sau khi đã dâng lời tạ ơn. Các môn đệ chỉ là những người đi thu lại những gì Chúa Giêsu
đã phân phát. Điều này khác với Tin Mừng Nhất lãm là Chúa Giêsu dâng lời tạ ơn,
bẻ ra và trao cho các môn đệ đi phân phát cho dân chúng và cũng chính các môn
đệ đi thu lại những gì Chúa Giêsu đã bẻ ra và các ông phân phát. Chúng ta rút
ra từ những chi tiết này điều để suy gẫm là: Chúa Giêsu luôn là Người trao ban
chính mình và mọi sự cho chúng ta. Về phần chúng ta, chúng ta chỉ cộng tác với
Ngài trong việc phân phát những gì của Chúa Giêsu đã trao vào tay chúng ta cho
anh chị em của mình. Sứ vụ của chúng ta là sự tiếp nối của sứ vụ Chúa Giêsu.
Những gì chúng ta trao ban đều thuộc về Chúa Giêsu. Chỉ khi hiểu được điều này,
sứ vụ của chúng ta mới sinh được nhiều hoa trái để mọi người được ăn no nê mà
vẫn còn dư thừa.
Bài Tin Mừng kết thúc với
phản ứng của đám đông sau khi nhìn thấy dấu lạ là: “Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giêsu làm thì nói: ‘Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế
gian!’” (Ga 6:14). Đứng trước sự hiểu lầm về
chân tính của mình, Chúa Giêsu liền tránh mặt: “Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem
đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6:15). Đứng trước dấu lạ Chúa Giêsu thực hiện, dân chúng chỉ dừng lại ở những
gì “thuộc về thân xác, thuộc về đất.” Vì vậy, họ không hiểu được thực tại trên
trời mà qua dấu lạ Chúa Giêsu ám chỉ đến. Qua dấu lạ, họ chỉ dừng lại ở việc
tuyên xưng Chúa Giêsu là một vị ngôn sứ như Môsê, người đã cho họ bánh ăn trong
sa mạc. Họ không thể đạt đến việc tuyên nhận rằng, Ngài là Bánh Hằng Sống từ trời
xuống, là Con Thiên Chúa. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng chỉ dừng lại
ở vẻ bề ngoài của sự kiện để rồi không thể đọc và hiểu được điều Thiên Chúa nói
với chúng ta. Hãy vượt qua những gì mà con mắt thể lý có thể nhìn, và nhìn với
con mắt đức tin, chúng ta mới hiểu được những thực tại của Thiên Chúa.