Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật lễ Thăng Thiên năm A
NƯỚC TRỜI: QUÊ HƯƠNG THẬT CỦA CHÚNG TA
(Cv
1:1-11; Ep 1:17-23; Mt 28,16-20)
Lm.
Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng Lễ Chúa
Thăng Thiên [Chúa Lên Trời]. Chúng ta cử hành Thánh Lễ này mỗi năm, nhưng chúng
ta có hiểu và sống ý nghĩa của Thánh Lễ này trong đời sống thường ngày của
chúng ta hay không? Đây chính là vấn đề mà nhiều người Kitô hữu chúng ta không
để ý. Hằng năm, chúng ta vẫn cử hành Thánh Lễ này. Cử hành xong, chúng ta trở
về lại với cuộc sống bình thường của mình như không có gì thay đổi, như Thánh
Lễ này không mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống của chúng ta. Để biết, hiểu và
sống trọn vẹn ý nghĩa của mầu nhiệm chúng ta cử hành hôm nay, chúng ta hãy để
lời Chúa hướng dẫn.
Trong bài đọc 1, tác giả sách Công Vụ Tông Đồ thuật
lại cho chúng ta sự kiện Chúa Giêsu được đưa lên trời. Khi đọc kỹ trình thuật
này, chúng ta thấy tác giả sắp xếp một cấu trúc thật chặt chẽ cho trình thuật
để chuyển tải sứ điệp của mình: Trước khi lên trời – công việc của các môn đệ
khi Chúa Giêsu lên trời – khi Chúa Giêsu lên trời. Trước khi lên trời, “trước
ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh
Thần. Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người
vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói
chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa” (x. Cv 1:1-3). Những lời này trình bày
các Tông Đồ là những người được Chúa Giêsu tuyển chọn, dạy bảo và cho nhìn
thấy, nghe thấy những gì Ngài đã thấy và nghe từ Chúa Cha. Ngài cũng chứng tỏ
cho họ biết Ngài đã phục sinh sau khi chịu khổ hình. Các Tông Đồ được sai đi để
làm chứng nhân của Chúa Giêsu sau khi Ngài lên trời. Cũng như các Tông Đồ,
chúng ta được Chúa Giêsu tuyển chọn, dạy bảo. Chúng ta cũng đã được chứng kiến
những kỳ công Ngài đã thực hiện. Chúng ta đã trở nên chứng nhân như thế nào của
Chúa Giêsu? Tác giả sách Tông Đồ Công Vụ cho thấy, chỉ với sức mạnh của Thánh
Thần các Tông Đồ và chúng ta mới có thể trở thành chứng nhân của Chúa Giêsu
trong từng ngày sống của mình: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa
Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh
Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy
tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”
(Cv 1:7-8). Dưới tác động và với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ [và
chúng ta] trở nên chứng nhân cho Chúa Giêsu, Đấng “được cất lên ngay trước mắt
các ông” (Cv 1:9). Ngài sẽ trở lại trong vinh quang để đưa chúng ta về với
Ngài. Chi tiết này giúp chúng ta ý thức rằng quê hương thật của chúng ta là ở
trên trời. Cuộc sống trên dương thế là hành trình chứng nhân của Chúa Giêsu
trong từng ngày sống. Một cách cụ thể, qua thập giá, đến vinh quang là hành
trình chứng nhân mà mỗi người chúng ta phải trãi qua đến khi đạt đến quê trời
là quê hương thật của chúng ta.
Thánh Phaolô, trong bài đọc 2, nói cho các tín hữu
Êphêsô về lời cầu nguyện chuyển cầu của mình cho họ. Lời cầu nguyện này chứa
đựng những ngôn từ của thư gởi tín hữu Côlôxê và của lời chúc tụng trong thơ
gởi tín hữu Êphêsô, nhưng cũng đưa vào những tư tưởng từ Thánh Vịnh 110 và 8 để
tạo ra những khẳng định đặc thù về việc tôn vinh Đức Kitô và Giáo Hội. Chúng ta
thấy có hai phần rõ rệt trong bài đọc 2. Phần 1 là lời cầu xin (Eph 1:17-20) và
phần 2 (Eph 1:21-23) là lời tôn vinh Đức Kitô và Giáo Hội. Trong lời cầu xin
của mình cho các tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô xin Thiên Chúa ban cho họ sự khôn
ngoan thông hiểu để hiểu được mầu nhiệm của Thiên Chúa và ý định của Ngài cho
con người: “Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta,
ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mạc khải cho anh em nhận biết
Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng
anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong
phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao
Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng
đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi
dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” Chi tiết chúng ta cần lưu
ý là thuật ngữ “dân thánh” [hagioi]
(câu 18). Thuật ngữ này có thể ám chỉ cộng đoàn dưới đất (x. Eph 1:1,15) hoặc
cộng đoàn trên trời, các thiên thần. Trong bối cảnh của bài đọc, thuật ngữ này
ám chỉ đến các thiên thần, nhữnng vị mà cộng đoàn dưới thế được nối kết trong
Đức Kitô. Trong Đức Kitô, chúng ta được liên kết với các thiên thần và các
thánh trên trời. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng niềm hy vọng của chúng ta là
được sống trên thiên đàng với Thiên Chúa và các thần thánh trên trời. Như vậy,
chúng ta không bao giờ cô độc và cuộc sống của chúng ta là hành trình nhìn lên
cao, hành trình đi về quê trời. Nhưng nhiều khi chúng ta sống đời sống của mình
như mọi sự kết thúc trên trần thế này. Chúng ta chạy theo bạc tiền; chúng ta đi
tìm vinh quang danh dự ở đời để nhiều lần không tích luỹ cho mình kho tàng ở
trên trời. Hãy sống như những người đang đi trên trái đất, nhưng con tim và tâm
hồn hướng về trời cao!
Trong phần tôn vinh Đức Kitô và Giáo Hội, Thánh
Phaolô sử dụng lời Thánh Vịnh (110:1 và 8:7): “Người đã tôn Đức Kitô lên trên
mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong
thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất
cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội
Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được
viên mãn.” Quyền năng của Thiên Chúa được mạc khải trong sự phục sinh và lên
trời của Đức Kitô và việc tôn phong Ngài trỗi vượt trên mọi quyền lực thần
thiêng. Tác giả đã sử dụng những câu khẳng định trong kinh tin kính của các
Kitô hữu thời sơ khai để công thức hoá sự kiện Đức Kitô hầu gây ấn tượng cho
người đọc về vị trí vinh quang mà họ được mời gọi đến chia sẻ trong Đức Kitô.
Bên cạnh đó, hình ảnh Đức Kitô được đặt làm đầu toàn thể Hội Thánh được tác giả
sử dụng nhằm công bố một hình ảnh quan trọng sẽ là trung tâm của toàn bộ lá
thư, đó là việc Chúa Giêsu là đầu của Hội Thánh. Đây chính là sự phát triển
khái niệm của Thánh Phaolô về nhiều thành phần [bộ phận] khác nhau hợp lại tạo
nên thân mình Đức Kitô (1 Cr 12:12-17). Hội Thánh là người thừa hưởng kế hoạch
phổ quát của Thiên Chúa, như là người thừa hưởng quyền cai trị của Ngài trên
mọi sự và trên mọi quyền lực thiêng liêng. Hội Thánh – thân thể Đức Kitô – chia
sẻ trong sự thống trị của Đức Kitô, là Đầu của mình.
Bài Tin Mừng trích từ phần kết của Tin Mừng Thánh
Mátthêu. Chúng ta cũng tìm thấy trình thuật này trong các Tin Mừng khác (x. Mc
16:14-18; Lc 24:36-49; Jn 20:19-23; Cv 1:9-11). Phần kết thúc này rất giàu về ý
nghĩa vì thực tế cho chúng ta thấy rất khó để nói nhiều điều quan trọng hoặc vĩ
đại trong một số chữ thật giới hạn. Trình thuật này trình bày một phần nào đó
về viễn cảnh cánh chung, là sự hoàn thành của viễn cảnh mà Đanien có về Con
Người. Thể loại của trình thuật nối kết nhiều yếu tố của một kiểu mẫu phong
vương trong Cựu Ước trong một cuộc sai đi.
Bài Tin Mừng bắt đầu với con số “mười một môn đệ” ám
chỉ đến kết thúc đáng buồn của Giuđa Ítcariốt. Hình ảnh quen thuộc trong Tin
Mừng Thánh Mátthêu được đưa ra ở đây, đó là ngọn núi: “Khi ấy, mười một môn đệ
đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến” (Mt
28:16). Đây là ngọn núi của mạc khải (x. 17:1), nơi Chúa Giêsu chạm đến họ (x.
17:7). Trên ngọn núi này, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy
ông lại hoài nghi” (Mt 28:17). Các môn đệ nhìn thấy sự hiện ra của Chúa
Giêsu sống lại, nhưng lời của Ngài được nhấn mạnh hơn là diện mạo của Ngài.
Không có một đề cập nào đến việc thăng thiên [lên trời] bởi vì điều đó xảy ra
cùng lúc với sự kiện phục sinh. Sự bái lạy của các môn đệ tỏ cho thấy đức tin
của họ, nhưng đức tin này vẫn còn trộn lẫn với nghi ngờ, một kinh nghiệm tâm lý
chung mang lại niềm hy vọng cho những con người hiện đại. Đây chính là tình
trạng đức tin của mỗi người chúng ta. Khi đến với Chúa Giêsu, đức tin của chúng
ta vẫn có những nghi ngờ. Những nghi ngờ này là hệ quả của những đau khổ mà
chúng ta đã trải qua. Chúng ta nghi ngờ không biết Chúa có đủ khả năng để đạt
đến “vinh quang qua thập giá” hay không?
Sau khi nói đến hành động thờ lạy và thái độ còn
nghi ngờ của các môn đệ, Thánh Mátthêu đề cập đến hành động của Chúa Giêsu: “Đức
Giêsu đến gần, nói với các ông: ‘Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới
đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa
cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân
giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho
đến tận thế’” (Mt 28:18-20). Những lời từ biệt này của Chúa Giêsu có thể được
chia ra làm ba phần, ám chỉ cách tương ứng với quá khứ, hiện tại, và tương lai.
Trong phần quá khứ, chúng ta đọc thấy việc Chúa Giêsu được trao toàn quyền trên
trời dưới đất. Ở đây, cấu trúc câu được sử dụng thì quá khứ và ở trạng thái thụ
động mang tính thần học: Thiên Chúa [Chúa Cha] là đấng trao quyền thống trị cho
Chúa Giêsu như là Con Người. Quyền này là quyền của Nước Thiên Chúa (x. Dan
7:14; 2 Bns 36:23; Mt 6:10). Việc sai đi được đặt trong thì hiện tại, liên quan
đến vấn đề hiện tại. Nó bao gồm một mệnh lệnh tổng quát ra đi và làm cho muôn
dân trở thành môn đệ và sau đó là hai mệnh đề phụ, đó là (1) làm phép rửa và
(2) dạy bảo. Hai mệnh đề phụ này giải thích về mệnh lệnh tổng quát phải được
thực hiện như thế nào. Việc rao giảng của các môn đệ phải nhắm đến muôn dân.
Đây chính là lời mời gọi phổ quát áp dụng cho mọi người bao gồm mọi văn hoá, và
ngay cả những người Do Thái, là những người chưa là môn đệ của Chúa Giêsu. Sau
mệnh lệnh mang tính cụ thể trong Mt 10:16 và 15:24, mệnh lệnh này được đưa ra
như một cái gì đó rất ngạc nhiên cho các môn đệ. Tuy nhiên, sứ mệnh cho dân
ngoại đã được ám chỉ trong Mt 2:1-12; 4:15-16,23-25; 26:13. Điểm đáng lưu ý
khác là công thức “Ba Ngôi” của phép rửa. Công thức này có thể có nguồn gốc
trong Cựu Ước trong hình thức “Ba Ngôi” mang tính khải huyền trong sách Đanien:
Đức Chúa, Con Người hoặc Đấng được chọn, và Thiên Thần (x. Đn 7; Ez 1). Ở đây,
chúng ta thấy vấn đề cắt bì không được đề cập đến, có thể bởi vì vấn đề được
giải quyết và thuật lại trong sách Công Vụ Các Tông Đồ (15:1-29).
Tương lại của các môn đệ luôn có Chúa Giêsu hiện diện.
Các môn đệ sẽ tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, qua đó đặt nền tảng cho nền giáo dục,
thần học và những công việc trí tuệ khác mang tính Kitô giáo. Nội dung chính của
việc giảng dạy của họ là những trình thuật chính trong Tin Mừng Thánh Mátthêu
[những gì Chúa Giêsu đã truyền cho họ], nhất là Bài Giảng Trên Núi [Tám Mối
Phúc Thật] vì nó giải thích toàn bộ Cựu Ước. Toàn bộ công việc rao giảng rất
khó khăn nên câu cuối cùng của Tin Mừng là lời hứa về một sự nâng đỡ cho tương
lai, “Thầy ở cùng anh em.” Công thức khế ước này tạo thành một inclusio (tổng hợp) với Mt 1:23 [x.
18:20). Chúa Giêsu là Emmanuel, là sự hiện diện của Thiên Chúa (shekinah) với dân của Ngài trong khi họ
quyết định, học hỏi, cầu nguyện, rao giảng, làm phép rửa và giảng dạy. Món quà
của Chúa Thánh Thần không được nêu lên cách rõ ràng, ngược với Tin Mừng Thánh
Gioan (20:22) và Công Vụ Tông Đồ (2:1-4), nhưng trong các thư của Thánh Phaolô,
Chúa Thánh Thần là sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta (x. 2 Cr 3:17).
Chúa Giêsu không ở với các môn đệ cho đến khi họ kết thúc việc giảng dạy của họ
trên trần gian, nhưng cho đến “tận thế.” Thuật ngữ “tận thế” ám chỉ đến việc Nước
Thiên Chúa đến trong sự hoàn thành của nó.