Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật I Mùa Chay
THỰC HÀNH LỜI CHÚA: VŨ KHÍ CHỐNG LẠI CÁM DỖ
(St
2:7-9; 3:1-7; Rm
5:12-19; Mt
4:1-11)
Lm.
Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Cám dỗ là một thực tại mà chúng ta thường đối diện
trong từng ngày sống. Đây là đề tài chính của Chúa Nhật đầu tiên Mùa Chay. Bài
đọc 1 trình thuật cho chúng ta về việc Adam và Eve bị cám dỗ, trong khi đó bài
Tin Mừng kể lại cho chúng ta câu chuyện Chúa Giêsu bị quỷ cám dỗ. Con người đầu
tiên [Adam và Eve] bị sa ngã, còn Con Người thì chiến thắng. Đâu là nguyên nhân
dẫn đến sự sa ngã của Adam đầu tiên và đâu là lý do chiến thắng của Adam thứ
hai?
Tác giả sách Sáng Thế cho chúng ta biết “Đức Chúa là
Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con
người trở nên một sinh vật” (2:7). Những lời này chỉ ra hai cấu tố tạo
thành con người, đó là ‘bụi đất’ và ‘sinh khí của Đức Chúa.’ Chi tiết này ám
chỉ việc con người chỉ là một ‘sinh vật,’ một con người thực thụ và chỉ có thể
phát triển mình cách toàn diện khi con người không tách rời hai cấu tố này khỏi
nhau. Yếu tố ‘bụi đất’ nói lên mối tương quan giữa con người với vũ trụ, còn
yếu tố ‘sinh khí’ đặt con người vào mối tương qua sinh tử với Thiên Chúa. Nói
cách khác, con người chỉ là một tạo vật không có sự sống thực thụ khi con người
chỉ là bụi đất. Cấu tố này nói lên sự mỏng dòn và yếu đuối của con người.
Cám dỗ luôn bắt đầu và nhắm tới khía cạnh rất căn
bản của con người, đó là khía cạnh ăn uống hay đúng hơn là thoả mãn những nhu
cầu căn bản của đời sống thể lý. Chúng ta thấy điều này trong cả hai cám dỗ của
Adam [và Eve] và Chúa Giêsu. Cám dỗ đầu tiên của nhân loại bắt đầu như sau: “Rắn
là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Đức Chúa là Thiên
Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: ‘Có thật Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi
không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?’” (3:1). Những lời này chỉ ra
cho chúng ta thấy cám dỗ luôn tấn công cấu tố làm cho con người là con người,
đó là tự do. Con rắn nói: “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn”
ám chỉ rằng con người hoàn toàn không có tự do. Đức Chúa không cho con người tí
tự do nào. Cảm giác này là cảm giác của nhiều người trong chúng ta khi tin
Chúa. Chúng ta thấy mình bị gò bó, phải làm điều này, điều kia, không được làm
điều này điều kia. Như Eve cho biết, con người có tự do, nhưng tự do đó là một
tự do ‘có giới hạn của một tạo vật’: Người đàn bà nói với con rắn: “Trái các
cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn,
Thiên Chúa đã bảo: ‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải
chết’” (3:2-3). Khi con người khẳng định mình có tự do, quỷ liền đưa con
người qua một thái cực khác, đó là tự do của con người là vô hạn, có thể làm
cho con người thành chúa của chính mình, của người khác và của vũ trụ: “Rắn nói
với người đàn bà: ‘Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào
ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần
biết điều thiện điều ác’” (3:4-5). Vì luôn khát vọng có được sự tự do
tuyệt đối, biết hết mọi sự như Thiên Chúa, con người không còn quan tâm đến lời
của Thiên Chúa. Họ chạy theo sự quyến rũ của giác quan và không tuân theo lời
Chúa: “Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng
quý vì làm cho mình được tinh khôn” (3:6). Thực tế cuộc sống chỉ ra cho chúng
ta nhiều lần mình chọn những gì đẹp mắt với người đời hơn là đẹp mắt trước mặt
Chúa. Điều này đã khiến chúng ta bất tuân lệnh của Ngài. Chỉ những ai đặt giá
trị thiêng liêng trên giá trị vật chất mới có khả năng tuân theo điều Thiên
Chúa truyền dạy.
Thánh Phaolô trong bài đọc 2 nói về sự ‘tương phản’
giữa Adam và Chúa Giêsu. Vì Adam mà “tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi
gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người
đã phạm tội” (Rm 5:12). Thánh Phaolô cũng cho biết tội Adam phạm là tội
bất tuân lệnh Thiên Chúa (Rm 5:14). Nhưng với sự vâng phục của mình, Chúa Giêsu
đã mang đến cho con người ân sủng thật dồi dào của Thiên Chúa: “Thật vậy, cũng
như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội
nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ
thành người công chính” (Rm 5:19). Thánh Phaolô trình bày cho chúng ta cội rễ
của tội lỗi là sự không vâng lời. Đây chính là điều Adam và Eve đã làm khi
chống lại Thiên Chúa thời khởi nguyên và cũng là kinh nghiệm của mỗi người
chúng ta ngày hôm nay. Theo kinh nghiệm thường ngày, chúng ta không muốn vâng
lời vì chúng ta có cảm giác mình mất đi sự tự do và không có sự sáng tạo khi
vâng lời. Nhưng sâu xa ở bên trong, chúng ta không muốn vâng lời vị sự kiêu
ngạo của mình. Chúng ta cho rằng tư tưởng của mình tốt hơn của người ra lệnh.
Đây chính là lý do chúng ta cảm thấy việc vâng phục Thiên Chúa trở nên như một
gánh nặng, trong khi đó những cám dỗ về tiền tài vật chất và vinh hoa phú quý ở
đời hứa hẹn cho chúng ta một cuộc sống sung túc mà không cần phải vâng phục
Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng đối diện những cám dỗ như chúng ta, nhưng Ngài đã
chọn gì: Vâng phục Thiên Chúa hay làm theo ý riêng mình?
Thánh Mátthêu [và Thánh Luca] mở rộng trình thuật
ngắn gọn của Thánh Máccô về bốn mươi đêm ngày ăn chay trong hoang địa và cám dỗ
của Chúa Giêsu. Thánh Mátthêu mở rộng bằng việc kể lại ba cám dỗ của Chúa
Giêsu. Theo các học giả Kinh Thánh, Thánh Mátthêu và Thánh Luca có sử dụng
chung một nguồn hay không thì điều đó không rõ ràng; nếu có chung một nguồn,
thì một trong hai thánh sử đã sử dụng nó cách tự do. Nếu chúng ta đọc hai bản
văn của Thánh Mátthêu và Luca, chúng ta nhận ra rằng những đoạn trích dẫn Kinh
Thánh rất giống nhau trong cả hai Tin Mừng. Điều khác biệt là hai cám dỗ thứ
hai và thứ ba bị hoán đổi vị trí.
Chi tiết đầu tiên đáng lưu ý là: “Sau khi chịu phép
rửa, Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. Người
ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày” (Mt 4:1-2). Đây chính là bối cảnh của toàn
bộ trình thuật. Chúa Giêsu đi vào hoang địa dưới sự hướng dẫn của thần khí và
Ngài ăn chay bốn mươi đêm ngày. Theo các học giả Kinh Thánh, những lời này ám
chỉ đến 40 năm của dân Israel trong hoang địa. Hành trình trong hoang địa là
thời gian của cám dỗ, của thất bại cho dân Israel. Ở đây chúng ta nhận ra hình
ảnh biểu tượng rất rõ ràng; những cám dỗ và những câu trả lời của Chúa Giêsu
khẳng định đặc tính thật của sứ vụ Đấng Messia thực hiện. Câu trả lời của Chúa
Giêsu cho ba câu hỏi của tên cám dỗ được lấy từ sách Đệ Nhị Luật (8:3;
6:16,13). Khi sử dụng nguồn trích từ sách Đệ Nhị Luật, Thánh Mátthêu muốn chỉ
ra rằng chính Lề Luật mặc khải căn tính thật của Đấng Messia.
Khi đọc và phân tích ba cám dỗ của Chúa Giêsu cẩn
thận, chúng ta có thể kết luận rằng: Đây là những cám dỗ về quyền lực. Cám dỗ
thứ nhất bắt đầu với nhu cầu căn bản nhất của con người, đó là cái ăn, cái mặc:
“Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!” (Mt
4:4). Trong cám dỗ này, tên cám dỗ nói Chúa Giêsu sử dụng quyền năng làm phép
lạ để cung cấp những nhu cầu vật chất bình thường của ngày sống. Nhưng Chúa
Giêsu đáp: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng
còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (4:4). Chúa Giêsu trích sách Đệ Nhị
Luật để trả lời. Câu trả lời này không từ chối việc con người cần những nhu cầu
vật chất thường ngày, nhưng những nhu cầu này cần quy phục lời Chúa được mặc
khải cho con người. Nói cách khác, Chúa Giêsu không hoàn thành sứ vụ của mình
bằng việc cung cấp những nhu cầu thể lý cần thiết cho con người, nhưng bằng
việc công bố lời Chúa vì lời Chúa là sự sống.
Cám dỗ thứ hai cũng liên quan đến việc sử dụng quyền
năng làm phép lạ. Đây là việc sử dụng quyềnn năng để tạo ra một “dấu lạ” (x Mt
12:38-42): “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời
chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ
tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Mt 4:6). Nếu Chúa Giêsu thực hiện điều
này, thì đây là một dấu lạ vĩ đại và rất thuyết phục mà có thể sẽ làm cho nhiều
người tin vào Ngài: Một người gieo mình từ nóc đền thờ xuống mà không bị gì,
quả là phép lạ! Nhưng Chúa Giêsu không thực hiện những dấu lạ như thế. Ngài
điềm tỉnh trích sách Đệ Nhị Luật để trả lời: “Nhưng cũng đã có lời chép rằng:
Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4:7). Đây chínnh là
câu trích để khuyến cáo dân Israel về việc hấp tấp, vội vàng trong quyết định
mà không suy nghĩ [hay thiếu suy nghĩ]. Việc đòi hỏi một dấu lạ để thu hút sự
chú ý của công chúng áp đặt những đòi hỏi trên Thiên Chúa về những gì Ngài đã
không hứa sẽ thực hiện. Đây không phải là cách thức Thiên Chúa chọn để mặc khải
chính mình. Điều này nhắc nhở chúng ta về thái độ ‘đòi hỏi’ của mình khi đến
với Chúa. Chúng ta bắt Chúa phải thực hiện những điều chúng ta muốn theo cách
thức của chúng ta để tỏ quyền năng và mặc khải chính mình cho chúng ta. Chúa
Giêsu khẳng định rằng hãy để Chúa thực hiện điều Ngài đã hứa theo cách thức của
Ngài. Đừng thử thách và đòi hỏi ở Ngài dấu lạ để thoả mãn tính hiếu kỳ của
mình.
Cám dỗ thứ ba là cám dỗ để trở thành một đấng cứu
thế mang tính trần tục, với tất cả vinh quang của trần thế: “Quỷ lại đem Người
lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và
vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: ‘Tôi sẽ cho ông tất cả
những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi’” (Mt 4:8-9). Trong cám dỗ này,
chúng ta thấy tên cám dỗ chỉ ra khả thể sử dụng quyền lực chính trị để hoàn
thành sứ vụ mang tính cứu độ. Đáp lại cám dỗ này, Chúa Giêsu đi vượt qua những
câu trả lời trước với sự cương nghị và ‘xua đuổi’ tên cám dỗ. Một lần nữa, Chúa
Giêsu trích sách Đệ Nhị Luật (6:13) để trả lời: “Xatan kia, xéo đi! Vì đã có
lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ
phượng một mình Người mà thôi.” Những lời trích này đặt đấng cứu thế mang tính
trần tục lên ngang hàng với việc tôn thờ ngẫu tượng. Trong những lời trên, Chúa
Giêsu khẳng định việc tôn thờ một mình Thiên Chúa và đó là điều luật quan trong
nhất đối với người Do Thái. Nhiều lần chúng ta cũng đã tôn thờ ngẫu tượng:
chúng ta tôn thờ tiền của, vật chất, quyền lực hơn Thiên Chúa. Đây luôn là cám
dỗ mỗi ngày của chúng ta. Lời Chúa hôm nay chỉ ra cho chúng ta vũ khí để chống
lại cám dỗ, đó là “tuân theo Lời Chúa.” Thật vậy, lý do Adam và Eve bị sa ngã
chính là ‘không tuân theo lời Chúa [bất tuân]. Còn Chúa Giêsu chiến thắng cám
dỗ bằng chính lời Chúa. Như vậy, việc lắng nghe và thực thi lời Chúa là vũ khí
hùng mạnh nhất để chống lại cám dỗ.