Suy niệm Lời Chúa: Thứ Hai tuần 27 Thường niên
AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN CỦA TÔI?
(Gn 1:1 – 2:1.11; Lc 10:25-37)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Bài đọc 1 hôm nay trình
bày cho chúng ta thái độ sợ hãi và lẫn trốn của Giôna trước lời mời gọi của Đức
Chúa: “Có lời Đức Chúa phán với ông Giô-na, con ông A-mít-tai, rằng: ‘Hãy đứng dậy, đi đến Ni-ni-vê, thành
phố lớn, và hô cho dân thành biết rằng sự gian ác của chúng đã lên thấu tới Ta.’ Ông Giô-na đứng dậy nhưng là để
trốn đi Tác-sít, tránh nhan Đức Chúa” (Gn 1:1-3). Đây cũng chính là
thái độ ban đầu của mỗi người chúng ta khi được Thiên Chúa mời gọi mang sứ điệp
tình yêu của Ngài để cho anh chị em mình. Nhiều người trong chúng ta cũng sợ
hãi, chần chờ hay lẫn trốn khỏi nhan thánh Chúa bằng cách tìm những kế hoạch hay
những lộ trình khác để đi chứ không đi theo kế hoạch và lộ trình mà Thiên Chúa
đã mời gọi chúng ta thực hiện và bước đi. Tuy nhiên, dù chúng ta có cố gắng đi
theo hành trình chính mình vạch ra, Đức Chúa cũng có cách để đưa chúng ta về
với lộ trình Ngài đã vạch ra cho mỗi người chúng ta. Điều này được phản chiếu
trong câu chuyện của Giôna khi “Đức Chúa tung ra một cơn gió to trên biển và liền có một trận bão lớn
ngoài khơi, khiến tàu tưởng chừng như sắp vỡ tan” (Gn 1:4) và làm cho hành trình của Giôna không
thể thực hiện. Chi tiết làm chúng ta suy gẫm ở đây chính là việc
Giôna nhận ra lỗi của mình, đó là trốn chạy khỏi Đức Chúa: “Ông nói với họ: ‘Tôi là người Híp-ri, Đấng tôi kính sợ là Đức Chúa, Thiên Chúa các tầng
trời, Đấng đã làm ra biển khơi và đất liền.’ Những người ấy sợ, sợ lắm; họ
nói với ông: ‘Ông đã làm gì thế?’ Thật vậy, do ông kể lại mà họ được biết là ông đang trốn đi để tránh
nhan Đức Chúa” (Gn 1:9-10). Khi nhận ra lỗi
của mình, ông sẵn sàng nhận trách nhiệm và phó thác vào lòng nhân từ khoan dung
của Đức Chúa: “Ông bảo họ: ‘Hãy đem tôi ném xuống biển thì biển
sẽ lặng đi, không còn đe doạ các ông nữa, vì tôi biết tại tôi mà các ông gặp
cơn bão lớn này’” (Gn 1:12). Thái
độ nà mời gọi chúng ta nhìn lại chính mình. Nhiều lần chúng ta cũng chạy trốn
khỏi đường lối của Đức Chúa. Những lúc đó, chúng ta thường mang “tai ương” đến
cho chính mình và những anh chị em đang sống hoặc đang hành trình với chúng ta.
Tuy nhiên, điều đáng làm trong những lúc đó là nhận lỗi trước mặt Đức Chúa cùng
anh chị em, sẵn sàng nhận trách nhiệm cho những gì mình làm và tin tưởng vào
tình yêu của Đức Chúa thì chúng ta lại đỗ lỗi cho anh chị em cùng đồng hành với
mình. Cuộc sống chỉ đẹp và bình yên khi mỗi người chúng ta đi theo con đường
Chúa mời gọi và không đỗ lỗi cho Chúa và anh chị em về những điều không may mắn
xảy ra cho mình.
Bài Tin Mừng hôm nay chỉ
được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca và được gọi là Dụ Ngôn Người Samaria
Nhân Hậu. Nội dung của bài Tin Mừng xoay quanh hai câu hỏi mà người thông luật
hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy,
tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10:25) và “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10:29). Đây là hai
câu hỏi mà mỗi người chúng ta tìm cách trả lời hầu tìm cho mình một cuộc sống ý
nghĩa.
Câu hỏi thứ nhất liên
quan đến sự sống đời đời và những việc chúng ta phải làm trong ngày. Cuộc đối
thoại xảy ra như sau:
Người thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống
đời đời làm gia nghiệp?”
Chúa Giêsu: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế
nào?”
Người thông luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến
người thân cận như chính mình.”
Chúa Giêsu: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ
được sống.”
Câu hỏi thứ hai xoay
quanh tương quan của chúng ta với người khác. Chúng ta thấy ở đây điều đáng suy
gẫm là chúng ta thường không có vấn đề gì lắm trong việc yêu Chúa, nhưng chúng
ta thường thấy không dễ dàng để yêu người khác, ngay cả những người rất gần
gũi, những người thân trong gia đình. Để trả lời câu hỏi về người thân cận,
Chúa Giêsu kể cho người thông luật một dụ ngôn [câu chuyện]. Trong câu chuyện,
chúng ta thấy có ba nhân vật và một người bị nạn. Người bị nạn được xem là yếu
tố ngoại cảnh. Điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta là thái độ của ba người
khi gặp người bị nạn [yếu tố ngoại cảnh]. Chúng ta xem mình thuộc loại người
nào trong ba loại người Chúa Giêsu nêu ra.
Trước khi phân tích thái
độ của ba người gặp kẻ bị nạn, điểm đầu tiên đáng để chúng ta suy gẫm là “hành
trình của một người kia.” Chúng ta thấy ở đây người bị nạn chỉ được đề cập đến
như là “người kia,” không có tên. Chi tiết này ám chỉ đến việc người gặp nạn có
thể bất kỳ người nào chúng ta gặp trong ngày sống của chúng ta. Họ có thể là
người thân hoặc những kẻ xa lạ. Chi tiết kế đến là hình ảnh “hành trình.” Trong
Tin Mừng Thánh Luca, “hành trình” rất quan trọng. Một cách cụ thể, trong Tin
Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu thực hiện “hành trình” của Ngài từ bên ngoài
[Galilê] lên Giêrusalem. Các môn đệ cũng đi cùng hành trình này với Chúa Giêsu.
Chỉ sau khi Chúa Giêsu lên trời, các Tông Đồ thực hiện hành trình từ Giêrusalem
đến tận cùng trái đất. Như vậy, theo Thánh Luca, Giêrusalem là trung tâm, vì
nơi đó có Đền Thờ là nhà “Cha của Chúa Giêsu” (x. Lc 2:49). Cuộc đời trần thế
của Chúa Giêsu là một hành trình lên Giêrusalem, hay nói đúng hơn đi về nhà
Cha. Chỉ có hành trình như thế mới mang lại bình an và ơn cứu độ. Người bị nạn
trong bài Tin Mừng hôm nay “đi ngược” với hành trình mà Chúa Giêsu đang đi
[Chúa Giêsu đi vào Giêrusalem – “người kia” đi ra khỏi Giêrusalem]: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô,
dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ
đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.” Điều này khuyến cáo chúng ta rằng: Những ai đi
ngược với hành trình mà Chúa Giêsu đi sẽ kết thúc trong nước mắt và đau thương.
Hãy lắng đọng giây phút để xem mình đang đi cùng hành trình về nhà Cha với Chúa
Giêsu hay chúng ta đang đi ngược với hành trình đó để rồi càng ngày càng xa
Chúa.
Chi tiết thứ hai để chúng
ta suy gẫm trong bài Tin Mừng là thái độ của ba người gặp người bị nạn. Chúa
Giêsu chọn ba người đại diện cho ba tầng lớp phổ biến trong thời gian đó. Như
chúng ta đã trình bày ở trên, người bị nạn không phải là nhân vật chính. Người
bị nạn được xem như một yếu tố ngoại cảnh, còn phản ứng của ba người gặp yếu tố
ngoại cảnh khẳng định loại người họ là. Chúng ta cùng nhau phân tích phản ứng
của họ.
Người thứ nhất là thầy tư
tế. Những chi tiết kế tiếp là (1) ông cũng đi xuống đường đó [đi ngược với hành
trình Chúa Giêsu đi], trông thấy nạn nhân, tránh qua bên kia mà đi (x. Lc
10:31). Những chi tiết này cho thấy thầy tư tế quá bận tâm với “danh dự” và
“vai trò” của mình. Thầy tư tế sợ đụng vào người “đẫm máu bên vệ đường” sẽ làm
cho công ta bị ô uế và không thể thực hành vai trò tư tế của mình. Nói cách
khác, ông đặt vai trò hay công việc lên trên nhân phẩm và sự sống của anh chị
em mình. Thái độ này cũng là thái độ của nhiều người trong chúng ta. Nhiều lần
trong ngày sống, chúng ta vì công việc mà trở nên vô tình, vô cảm với anh chị
em mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta phải đặt lại giá trị trong cuộc sống: sự sống
và nhân phẩm của anh chị em quan trọng hơn bất kỳ công việc và danh dự nào.
Người thứ hai là thầy
Lêvi. Chúng ta không biết ông ta đi về hướng nào. Chúng ta chỉ biết ông ta “đi
tới chỗ ấy” [cũng có thể ông
đang trên đường lên Giêrusalem chăng?], trông thấy nạn nhân, cũng tránh qua bên
kia mà đi (x. Lc 10:32). Cũng giống như thầy tư tế, thầy Lêvi cũng không muốn
để cho mình bị ngăn trở và bị trở nên ô uế khi đụng vào xác chết. Ông đặt sự an
toàn của chính mình và công việc lên trên nỗi thống khổ của anh chị em mình. Đây là hình ảnh của nhiều người trong
chúng ta, những người tìm kiếm tư lợi cho chính mình dù thấy anh chị em mình
đang phải đau khổ vật lộn với cuộc sống.
Người thứ ba là một người
Samaria. Cũng như thầy Lêvi, chúng ta không biết ông đi về hướng nào. Ông “đi
tới chỗ nạn nhân,” trông thấy, động lòng thương (x. Lc 10:33). Điều khác biệt
giữa ông và thầy tư tế cũng như thầy Lêvi là “ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương
cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về
quán trọ mà săn sóc” (Lc 10:33). Không chỉ “chăm sóc nhu cầu
gần” của người bị nạn, ông ta còn chăm sóc cả “nhu cầu xa”: “Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho
chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn
sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn
lại bác’” (Lc 10:35). Cử chỉ của
người Samaria dạy chúng ta rằng lòng thương xót không chỉ dừng lại ở nhu cầu
khẩn thiết của người thân cận, nhưng còn lo cho nhu cầu của người đó trong
tương lai. Nói cách khác, tình yêu không hệ tại ở một vài hành động tốt, nhưng hệ
tại ở động lực thúc đẩy chúng ta thực hiện những hành động tốt cho người khác,
hay nói đúng hơn hệ tại ở thái độ sống
đầy yêu thương mà chúng ta dành cho người khác.
Nét đẹp trong cuộc đối
thoại giữa Chúa Giêsu và thầy thông luật nằm ở chỗ “hoán đổi vị trí.” Nói cách
cụ thể, thay vì là người “chất vấn” Chúa Giêsu, thầy thông luật cuối cùng bị
Chúa Giêsu “chất vấn”: “Vậy theo
ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi
vào tay kẻ cướp?” (Lc 10:36). Chúa Giêsu muốn chính thầy thông luật trả lời cho câu hỏi của mình sau khi Ngài giảng dạy
qua dụ ngôn lấy từ cuộc sống hằng ngày. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng:
trong cuộc sống chúng ta cũng gặp nhiều điều để chất vấn Chúa. Nhưng Chúa cũng
muốn chúng ta tự tìm câu trả lời cho chính mình sau khi Ngài đã sử dụng người
khác hoặc những sự kiện xảy ra trong ngày sống để giúp chúng ta tìm ra câu trả
lời. Người thông luật đã tìm được câu trả lời của mình sau khi nghe Chúa Giêsu
giải thích: “Chính là
kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (Lc 10:37). Còn chúng
ta thì sao, liệu chúng ta có tìm ra câu trả lời cho vấn nạn về người thân cận
của chúng ta không?
Điều làm chúng ta ngạc
nhiên là Chúa Giêsu kết thúc hai lần trả lời với cùng một điều: “Ông hãy đi, và
cũng hãy làm như vậy” (Lc 10:28,37). Qua những lời này, Chúa Giêsu nhắc nhở
chúng ta về tầm quan trọng của việc thực hành những gì chúng ta nghe, biết về
lời dạy của Ngài. Nhiều người trong chúng ta nghe nhiều và cũng tự hào biết
nhiều về Chúa, nhưng đời sống lại không đi đôi với nhũng gì chúng ta nghe và
biết. Hãy bắt đầu từ ngày hôm nay! Hãy sống những gì chúng ta nghe và biết về
Thiên Chúa.