Suy niệm Lời Chúa: Thứ Bảy tuần 22 Thường niên
CHÚA
GIÊSU LÀ CHỦ CỦA NGÀY SABÁT
(Cl
1:21-23;
Lc 6:1-5)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Thánh Phaolô trong bài đọc 1
hôm nay nói cho các tín hữu Côlôxê về tình trạng của họ trước và sau khi tin
vào Chúa Giêsu: trước khi tin vào Chúa Giêsu, họ “là những người xa lạ, là thù
địch của Thiên Chúa vì những tư tưởng và hành động xấu xa của anh em” (Cl 1:21); sau khi tin vào
Chúa Giêsu, họ được hoà giải với Thiên Chúa và “trở nên thánh thiện tinh
tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người” (Cl 1:22). Những chi tiết này cho thấy,
trước và sau khi tin vào Chúa Giêsu, chúng ta phải có sự khác biệt. Sự khác
biệt rõ ràng nhất là sau khi tin vào Chúa Giêsu, chúng ta là “người nhà” của Thiên Chúa và
từ bỏ lối sống tội lỗi trước kia. Chúng ta tin vào Chúa cũng đã nhiều năm, cuộc
sống của chúng ta đã có sự khác biệt nào chưa? Chúng ta đã từ bỏ lối sống tội
lỗi mà trước kia chúng ta sống chưa?
Bài Tin Mừng hôm nay trình
thuật cho chúng ta về câu chuyện thứ hai trong sáu câu chuyện liên quan đến
hành động mang tính giải phóng của Chúa Giêsu trong ngày sabát. Câu chuyện hôm nay không
liên quan trực tiếp đến Chúa Giêsu, nhưng liên quan đến việc các môn đệ vì các
ông “bứt lúa, vò ăn” (Lc 6:1) trong ngày sabát. Hành động này gặp phải sự chống
đối của những người Pharisêu: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sabát?” (Lc 6:2). Đứng trước sự chống
đối của những người Pharisêu, các môn đệ Chúa Giêsu dường như im lặng. Sự im
lặng này ám chỉ rằng việc tấn công này không phải nhắm vào các môn đệ mà nhắm
vào Chúa Giêsu. Đứng trước sự chống đối này, Chúa Giêsu bình tĩnh dùng hình ảnh loại suy để
trả lời họ: “Ông Đavít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng? Ông vào nhà
Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn. Thứ bánh này, chỉ có tư tế
mới được ăn mà thôi. Câu chuyện ấy, các ông chưa đọc sao?” (Lc 6:3-4). Tuy nhiên, theo
các học giả Kinh Thánh, Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh loại suy dường như hơi
gượng ép, vì hành động của Đavít không xảy ra vào ngày sabát - ngày bị cấm, mà chỉ liên quan đến thức ăn bị
cấm. Điểm chính của lối suy diễn
này là cả Đavít và các môn đệ Chúa Giêsu đã làm một cái gì đó bị cấm, nhưng
điều đó để thừa nhận điểm đúng của những người Pharisêu. Những chi tiết này cho
thấy cách ứng xử của Chúa Giêsu trong những hoàn cảnh khó xử: (1) Ngài bình tĩnh để nhìn rõ vấn đề; (2) Ngài
công nhận tính hợp lý [điểm đúng] của người khác; (3) Ngài tìm hình ảnh loại
suy, nhưng gần gũi với người chất vấn để giải thích cho họ hiểu. Trở về với
cuộc sống của mình, chúng ta phải chân nhận rằng, khi đối diện với hoàn cảnh
khó xử, chúng ta thường không đủ bình tĩnh để nhìn rõ vấn đề. Bên cạnh đó, nhiều khi chúng ta để cho thành kiến
che đi những điều đúng của người khác, và hệ quả là chúng ta không thể đi vào
trong thế giới của người khác hầu tìm ra những hình ảnh quen thuộc với họ để
giải thích cho họ hiểu điều đang xảy ra. Thật vậy, chỉ những người bình tĩnh, biết công nhận điều đúng
của người khác và đi vào thế giới của người khác mới có được một con tim cảm
thông và dịu hiền.
Chúa Giêsu kết thúc cuộc tranh
luận với câu khẳng định: “Con Người làm chủ ngày sabát” (Lc 6:5). Trong câu này, Thánh Luca trình bày luận
chứng tuyệt đối của Chúa Giêsu cho những hành động của cộng đoàn Thánh Luca
trong việc không tuân giữ những luật lệ của ngày sabát [giống với người Do
Thái]. Ngoài ra, Chúa Giêsu được trình bày như
sứ giả chung cuộc của Thiên Chúa [hoặc Con Người], Đấng đã quy phục ngày sabát
của Thiên Chúa vào chính Ngài và sứ vụ rao giảng Nước Thiên Chúa và ban cho
những người theo Ngài quyền năng như thế. Nói cách khác, ý nghĩa của câu khẳng
định này là để nói lên việc Chúa Giêsu quy phục ngày sabát vào Ngài chứ không
trình bày Ngài như một người phân xử các cuộc tranh luận về ngày sabát. Nếu
ngày sabát quy phục Chúa Giêsu, thì Luật Lệ cũng phải quy phục Ngài. Như vậy,
việc tuân giữ ngày sabát [hay Chúa Nhật] không phải vì luật lệ, nhưng vì Chúa
Giêsu. Nói cách khác, chúng ta đi lễ không phải vì thói quen hay vì luật, nhưng
vì tình yêu chúng ta dành cho Chúa.