Suy niệm Lời Chúa: Thứ Ba tuần 14 Thường niên
CẦU
NGUYỆN XIN CHÚA BAN NHIỀU THỢ GẶT
(St
32:22-32;
Mt 9:32-38)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng,
SDB
Hôm qua chúng ta nghe câu
chuyện Giacóp đang trên đường đến nhà Laban. Trên đường đi, ông có một giấc mơ.
Trong giấc mơ đó, ông được Đức Chúa hứa ban cho đất và một dòng dõi hùng mạnh.
Trong bài đọc 1 hôm nay, lời Đức Chúa hứa về con cháu được thực hiện. Tác giả
sách Sáng Thế trình bày điều này qua những lời sau: “Đêm đó, ông Giacóp dậy, đem
theo hai bà vợ, hai nữ tỳ và mười một đứa con, và ông lội qua sông
Giápbốc. Ông đem họ theo, đưa họ qua sông, rồi đưa tài sản của ông qua (St 32:23-25). Tuy nhiên, nội dung chính của
bài đọc 1 nói về cuộc vật lộn của Giacóp với Đức Chúa. Theo một số học giả Kinh
Thánh, trình thuật về cuộc vật lộn với Đức Chúa được xem như bản đối chiếu với
cuộc gặp gỡ đầy sợ hãi với Êsau khi Giacóp về đến nhà. Qua câu chuyện, tác giả
muốn gởi đến thính giả thông điệp sau: Giacóp thật sự là con người được chúc
lành, nhưng lần này ông phải “vật lộn” để có được lời chúc lành. Điều này hoàn
toàn trái ngược với việc ông “lừa dối” Êsau để nhận lời chúc lành từ Ixaác.
Cuộc vật lộn của Giacóp để được Đức Chúa chúc lành ám chỉ nói đến cuộc sống của
chúng ta. Ai trong chúng ta cũng muốn được chúc lành. Nhưng nhiều khi chúng ta
muốn được chúc lành mà không muốn “vật lộn” với Chúa, hay nói cách khác là
không muốn có một “tương quan thân tình nào” với Chúa [vật lộn xảy ra khi hai
người “ôm chặt” nhau. Hình ảnh này ám chỉ đến một tương quan sâu đậm và thân
tình]. Chúng ta muốn được chúc lành mà không kiên nhẫn, luôn muốn bỏ cuộc. Điều
này được diễn tả qua những lời sau của Giacóp: “Tôi sẽ không buông ngài ra,
nếu ngài không chúc phúc cho tôi” (St 32:28). Liệu chúng ta có ôm chặt Chúa cho đến khi Ngài chúc lành cho mình không? Hay
chúng ta thấy mệt mỏi rồi rơi vào tình trạng thất vọng không còn tin tưởng vào
Chúa?
Chi tiết quan trọng thứ hai
trong cuộc vật lộn để xin chúc lành của Giacóp là việc “hỏi tên.” Trước khi
chúc lành, “Người đó hỏi ông: ‘Tên ngươi là gì?’ Ông đáp: ‘Tên tôi là Giacóp.’ Người đó nói: ‘Người ta sẽ không gọi tên ngươi là Giacóp nữa, nhưng là Ítraen, vì ngươi
đã đấu với Thiên Chúa và với người ta, và ngươi đã thắng’” (St 32:28-29). Nếu để ý chúng
ta không thấy lời chúc lành nào cả. Chúng ta chỉ thấy người lạ đổi tên Giacóp
thành Israel. Theo nguyên ngữ, từ Israel không được biết đến. Nó có thể có
nghĩa “xin Đức Chúa thống trị.” Nhìn từ khía cạnh này, lời chúc lành mà Thiên
Chúa ban cho Giacóp là được Ngài thống trị, được Ngài là Chúa. Tuy nhiên, trong
bối cảnh của trình thuật, từ Israel được hiểu từ khía cạnh của “học thuyết
nguyên nhân,” đó là “vì đấu với Thiên Chúa [và các chúa khác], với người ta
[Êsau và Laban], và ngươi đã thắng.” Nói cách cụ thể, từ Israel mang nghĩa sức
mạnh để “chiến đấu” với Thiên Chúa và con người. Trên đây là những thông tin
chúng ta cần biết. Từ những thông tin đó, điều đáng suy gẫm ở đây là việc đổi
tên. Theo Kinh Thánh, việc đổi tên hàm chứa hai ý nghĩa: (1) Thiên Chúa khẳng
định người được đổi tên thuộc trọn về Ngài, và (2) Thiên Chúa trao cho người
được đổi tên một sứ mệnh mới. Mỗi người chúng ta cũng được “đổi tên” [đặt tên
mới] trong ngày rửa tội [ngày khấn dòng]. Ngày đó, Thiên Chúa khẳng định chúng
ta thuộc trọn về Ngài. Đồng thời, Ngài cũng trao cho chúng ta sứ mệnh mới, sứ
mệnh yêu thương. Chúng ta đã sống hai thực tại này như thế nào: Chúng ta có
thuộc trọn về Chúa [hay thuộc về Ngài cách nửa vời?] và đang thực hành sứ mệnh
yêu thương không?
Trong bài Tin Mừng hôm nay,
Thánh Mátthêu trình thuật cho chúng ta hai điều nơi Chúa Giêsu, đó là Ngài chữa lành một người câm bị quỷ ám (Mt 9:32-34) và
Ngài tỏ lòng thương với đám đông dân chúng. Sự kiện Chúa Giêsu chữa người câm
bị quỷ ám cũng như phản ứng của người Pharisêu được trình bày rất ngắn gọn. Nếu
lưu ý, chúng ta nhận ra rằng việc chữa lành chỉ được đề cập đến trong một mệnh
đề phụ. Chúng ta sẽ thấy cùng sự kiện như thế được trình thuật cách chi tiết
hơn trong chương 12 (câu 22-32). Điều làm chúng ta quan tâm ở đây là việc chữa
lành của Chúa Giêsu đã gợi lên hai phản ứng trái chiều: tích cực nơi đám đông [“Dân chúng kinh ngạc, nói rằng: “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ!” (Mt 9:33)] và tiêu cực nơi
những người Pharisêu [“Nhưng người Pharisêu lại bảo: ‘Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ’” (Mt 9:34)]. Phản ứng tích cực của đám đông cho thấy việc Chúa Giêsu thực
hiện những phép lạ có một ý nghĩa quan trọng trong việc giải phóng dân Israel.
Phản ứng tiêu cực của những người Pharisêu đã bắt đầu một chuỗi đối kháng và
bóng dáng của Thập Giá đã rợp bóng trên cuộc đời Chúa Giêsu từ giây phút này.
Theo họ, Chúa Giêsu không phải là một “thầy thuốc không có hại.” Việc chữa lành
của Ngài mang đặc tính tôn giáo hơn là thể lý. Trong những sự kiện xảy ra thường ngày, nhất là những sự kiện đau
buồn [không như lòng mong ước], chúng ta phản ứng thế nào: đón nhận [để cho sức
mạnh giải phóng của ơn Chúa hoạt động trong chúng ta] hay phản kháng [làm cho
chuỗi đối kháng và bóng dáng thập giá tiếp tục rợp bóng trên Chúa Giêsu Kitô]?
Bốn câu nói về lòng thương xót
của Chúa Giêsu mang tính cách chuyển tiếp. Chúng nhằm mục đích kết thúc một
phần giảng dạy mà Chúa Giêsu thực hiện (4:23-9:34). Phần này trình bày cho
chúng ta về Chúa Giêsu như một Đấng Messia qua lời nói và hành động. Chúng cũng
nhằm mục đích mở ra cho sứ mệnh của các môn đệ và lời dạy về sứ mệnh rao giảng
trong chương 10. Việc sử dụng nguồn để viết phần này phản chiếu sự đa dạng đó,
sự hoà quyện giữa nguồn lấy từ Tin Mừng Thánh Máccô và nguồn Q. Một cách cụ
thể, trong phần này, câu quan trọng nhất là câu 35: “Đức Giêsu đi khắp các thành
thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và
chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.” Câu này lặp lại câu Mt 4:23. Câu này cung cấp một bản tóm tắt về sứ vụ
của Chúa Giêsu. Nó bao gồm một mệnh đề chính [“Đức Giêsu đi khắp các thành
thị, làng mạc”] và ba mệnh đề phụ [“giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết
các bệnh hoạn tật nguyền”]. Ba mệnh đề phụ tạo nên cấu trúc ‘ABA’ trong đó yếu tố B [“rao giảng Tin Mừng Nước Trời”] là nòng cốt và quan trọng. Nó được
“bao bọc” bởi việc “giảng dạy trong các hội đường” và “chữa hết các bệnh hoạn
tật nguyền.” Mối tương quan giữa ba yếu tố là: Tin Mừng Nước Trời được rao
giảng và bắt đầu triển nở bằng lời và hành động của Chúa Giêsu. Câu 35 này và
câu 23 của chương 4 tạo nên một “dấu kép,” trong đó Thánh Mátthêu miêu tả Chúa Giêsu như một thầy giảng qua lời
[trong chương 5-7] và qua hành động [trong chương 8-9]. Chi tiết này nhắc nhở
chúng ta về đời sống rao giảng Tin Mừng trong ngày sống. Việc rao giảng phải
được thực hiện không chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng hành động. Cuộc sống dạy
rằng: Người đáng tin cậy là người có lời nói đi đôi với hành động. Chúng ta đang sống điều này như thế nào?
Cuối cùng, việc Chúa Giêsu
chạnh lòng thương (câu 36) nói lên việc Ngài yêu thương với tất cả “cảm xúc”
của con người. Tình yêu [đầy cảm xúc] và lòng thương xót của Ngài mở rộng đến
đám đông chứ không chỉ giới hạn cho nhóm Mười Hai. Động lực mà qua đó Chúa dấn
thân để thực hiện “công việc tông đồ” là kinh nghiệm trực tiếp về nhu cầu cần
người lãnh đạo tinh thần [thiêng liêng] của đám đông: “họ lầm than vất vưởng, như
bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9:36). Ở đây, chúng ta thấy sự “nhanh nhẹn” của Chúa Giêsu khi Ngài biến “vấn
đề” [“họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không có người chăn dắt”] thành cơ
hội để dạy các môn đệ [“Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa
gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9:37-38)]. Từ cơ hội này, Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng: anh em thấy một sự trái
nghịch giữa lúa đồng [nhiều] và thợ gặt [ít]. Đây luôn là tình trạng anh em sẽ
đối diện vì công việc tông đồ luôn làm cho anh em bị “hao tổn tâm lý” ngay cả khi nó không đòi hỏi anh em
nhiều về thể lý. Vì vậy, anh em hãy cầu nguyện! Thật vậy, chỉ có cộng đoàn mà
đức tin của các thành viên được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện liên lỉ mới có thể đón nhận và tạo ra
những thợ gặt tốt cho mùa gặt.