Suy niệm Lời Chúa: Thứ Sáu tuần 13 Thường niên
YÊU
CHÚA GIÊSU LÀ YÊU TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI NGÀI YÊU
(St
23:1-4.19; 24:1-8.62-67;
Mt 9:9-13)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc
Dũng, SDB
Cuộc ly tan nào cũng mang đến
đau buồn. Chúng ta chứng kiến điều này trong bài đọc 1 hôm nay khi bà Xara qua
đời. Ông Ápraham đau buồn và than khóc bà Xara (x. St 23:2). Bà Xara sống đến
một trăm hai mươi bảy tuổi. Đây là dấu hiệu được
chúc lành trong Kinh Thánh. Tư tưởng này không còn hợp thời trong ngày hôm nay.
Một đời sống được chúc lành là một đời sống luôn được bình an dù gặp nhiều khó
khăn. Ai trong chúng ta cũng được Chúa chúc lành mỗi ngày. Nhưng nhiều khi
chúng ta chờ đợi ơn lành đến từ những gì là vĩ đại, thay vì đến từ những gì là
đơn sơ nhỏ bé của ngày sống. Người luôn nhận ra ơn lành của Chúa trong mọi sự
kiện nhỏ bé của ngày sống là người luôn có lòng tạ ơn và sống hạnh phúc.
Điểm thứ hai trong bài đọc 1
đáng để chúng ta suy gẫm là việc chọn vợ cho Ixaác. Sự kiện này cho thấy
Ápraham hoàn toàn để Thiên Chúa hướng dẫn dòng
dõi mà Thiên Chúa đã hứa ban cho ông. Điều này được diễn tả qua lời ông nói với
người quản lý: “Đức Chúa là Chúa Trời, Đấng đã đưa tôi ra khỏi nhà cha tôi, khỏi quê
hương tôi, Đấng đã phán với tôi và thề với tôi rằng: ‘Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi
đất này,’ chính Người sẽ sai sứ thần
Người đi trước mặt chú, để từ nơi đó chú cưới vợ về cho con tôi” (St 24:7). Ápraham tin rằng Đức Chúa sẽ sắp xếp
hết mọi chuyện theo ý Ngài. Đây là điều thường bị lãng quên trong thời đại hôm nay. Nhiều người xem mình
là “chúa” của cuộc đời mình, là người chi phối hết mọi sự. Ngay cả trong việc
dựng vợ gả chồng, họ muốn tự do chọn lựa
người “mình thích, mình yêu.” Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy chưa có khi nào mà tỉ lệ những
người không chung thuỷ với nhau nhiều như trong thời đại chúng ta. Điều này xảy
ra vì Thiên Chúa không có chỗ trong mọi quyết định của con người. Thật vậy, khi
con người gạt Thiên Chúa ra khỏi những quyết định của mình, họ sẽ trở thành
“bạo chúa.” Hãy để Thiên Chúa hướng dẫn đường đời của mình, chúng ta sẽ tìm
thấy niềm vui để khoả lấp những mất mát trong đời sống như Ixaác được khuây
khoả nỗi buồn mất mẹ khi được Đức Chúa ban cho Rêbêca.
Như chúng ta biết, ba câu
chuyện đầu tiên trong chương 9 của Tin Mừng Thánh Mátthêu (câu 1-17) nói về sự
chống đối Chúa Giêsu từ ba nhóm khác nhau [nhóm kinh sư, nhóm Pharisêu và nhóm
môn đệ của Gioan Tẩy Giả]. Hôm qua chúng ta đã nghe câu chuyện thứ nhất về việc
Chúa Giêsu chữa lành người bại liệt và Ngài bị nhóm kinh sư phản đối. Bài Tin
Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện thứ hai về việc Chúa Giêsu gọi Mátthêu và ăn
uống với “bọn thu thuế và quân tội lỗi.” Điều này đã khơi lên sự chống đối của nhóm
Pharisêu. Nhìn từ khía cạnh này, nội dung chính của bài Tin Mừng là cuộc “đối
đầu” giữa Chúa Giêsu và nhóm Pharisêu. Còn câu chuyện về ơn gọi của Mátthêu chỉ
là hình ảnh được sử dụng để nói lên quan điểm hay đúng hơn sứ mệnh của Chúa
Giêsu mà nhóm Pharisêu không biết.
Câu chuyện về ơn gọi của Thánh
Mátthêu được Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại (Mc 2:13-17; Mt 9:9-13; Lc 5:27-32).
Trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, câu chuyện được chia ra làm hai phần: phần 1 nói
đến việc Chúa Giêsu gọi Mátthêu (câu 9) và phần 2 kể về cuộc tranh luận giữa
Chúa Giêsu và nhóm Pharisêu (câu 10-13). Chúng ta cùng nhau phân tích cách chi
tiết hai phần này để hiểu rõ hơn điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta.
Cũng như bao ơn gọi khác, Chúa
Giêsu gọi Mátthêu đang khi ông làm công việc thường ngày của mình: “Khi ấy, Đức Giêsu đi ngang
qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mátthêu đang ngồi ở đó. Người bảo
ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người” (Mt 9:9). Trong cuộc gặp gỡ
này, Chúa Giêsu là người chủ động gọi Mátthêu và ông mau mắn đáp lại. Trong Tin
Mừng của Thánh Mátthêu, ngài nêu đích danh của mình. Còn trong Tin Mừng Thánh
Máccô và Luca, ngài được gọi là Lêvi? Tại sao có sự khác biệt này? Theo các học
giả Kinh Thánh, vào thời gian mà Tin Mừng Thánh Mátthêu được viết thì cái tên
Lêvi không còn quan trọng cho bằng cái tên Mátthêu, người được xem như là một
tông đồ. Trong Mt 10:3, Mátthêu được gọi là người thu thuế. Vì vậy, bản văn này
được đưa vào để trình bày Mátthêu như là nhân vật chính của bàn tiệc giữa Chúa
Giêsu với những người thu thuế và tội lỗi. Điều đáng để chúng ta lưu ý ở đây là
sự mau mắn đáp lại lời mời gọi làm môn đệ Chúa Giêsu của Mátthêu. Sự mau mắn
đáp trả của Mátthêu giả định một sự hiểu biết về Chúa Giêsu, sứ mệnh của Ngài
và khả thể ông được chia sẻ trong sứ mệnh đó. Nói cách khác, để đáp lại tiếng
Chúa Giêsu gọi, Mátthêu đã tìm hiểu về Ngài và suy gẫm về ý nghĩa cuộc đời của
mình. Chính hành trình tìm hiểu về Chúa Giêsu và chính mình đã tạo nên trong
Mátthêu một sự metanoia (“sám hối”).
Sự sám hối này đã làm cho thánh nhân thay đổi lối suy nghĩ, thay đổi con tim,
thay đổi lối sống để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cũng “đi
ngang” qua cuộc đời chúng ta mỗi giây phút. Ngài cũng gọi chúng ta trong khi
chúng ta bận rộn với công việc. Liệu chúng ta có như Thánh Mátthêu, dù bận rộn,
nhưng con tim luôn nhạy cảm với lời mời gọi của Chúa Giêsu không?
Sau khi đáp lại tiếng mời gọi
của Chúa Giêsu, Thánh Mátthêu trình bày cho chúng ta về bàn tiệc chia sẻ niềm
vui trong nhà của mình. Trong bàn tiệc đó, chúng ta thấy có những thành phần
sau: Mátthêu, nhiều người thu thuế và tội lỗi khác, Chúa Giêsu và các môn đệ (x. Mt 9:10). Tất cả
cùng chia sẻ trong cùng một bàn ăn. Như chúng ta biết, trong tư tưởng của người
Do Thái, chia sẻ cùng bàn ăn không đơn giản chia sẻ với nhau thức ăn, nhưng
quan trọng hơn là chia sẻ chính sự sống cho nhau. Trong bàn tiệc tại nhà Thánh Mátthêu, mọi người
được mời gọi để chia sẻ trong cùng sự sống của Chúa Giêsu, cả những người “đã
tốt” [các môn đệ] và những “chưa tốt” [người thu thuế và tội lỗi]. Những ai
không chấp nhận ngồi vào bàn ăn với Chúa Giêsu sẽ tự tách mình ra khỏi sự sống
mà Ngài trao ban. Đây là những người Pharisêu. Đúng với tên gọi của họ:
Pharisêu có nghĩa là “tách riêng ra.”
Chính việc Chúa Giêsu đón tiếp
và ăn uống với những người bị loại ra bên lề xã hội, những người được xem là
tội lỗi mà Ngài bị nhóm Pharisêu chống đối. Đứng trước lời chống đối của người
Pharisêu, Chúa Giêsu trích hai câu ngạn ngữ sau: (1) “Người khoẻ mạnh không cần
thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mt 9:12) và “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9:13). Câu ngạn ngữ thứ nhất lấy từ “công cảm”
được tìm thấy trong Stobaeus, Plurarch và Diogenes Laertius. Tư tưởng này bị
ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ triết học Hy Lạp. Theo lối suy nghĩ của các triết
gia Hy Lạp, người triết gia là thầy thuốc của linh hồn. Người thầy thuốc phải
đặt mình vào sự nguy hiểm của bệnh dịch để chữa bệnh. Khi nói điều này, Chúa
Giêsu nói với nhóm Pharisêu về việc Ngài là một thầy thuốc của linh hồn. Ngài
đang đặt mình vào mối nguy hiểm của bệnh dịch để chữa bệnh. Còn câu ngạn ngữ
thứ hai được Ngài trích từ Ngôn sứ Hôsê (6:6). Thánh Mátthêu thêm câu này ở đây
và trong 12:7. Câu trích này trở nên quan trọng đối với các Rabbi để giúp đền
bù cho sự mất mát của hy lễ trong Đền Thánh Giêrusalem [bị phá huỷ năm 70] như
là phương thế để được tha tội. Theo các Rabbi, học Kinh Thánh và những công
việc bác ái được xem là những thay thế chính đáng cho lễ tế. Chúa Giêsu kết
thúc cuộc tranh luận bằng cách khẳng định rằng: “Vì tôi không đến để kêu gọi
người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9:13). Qua câu này, Chúa
Giêsu khẳng định cho nhóm Pharisêu về sứ mệnh của Ngài, đó là kêu gọi người tội
lỗi; không chỉ kêu gọi người tội lỗi, mà Ngài còn chết cho họ để mang lại cho
họ ơn tha thứ. Từ mẫu gương của Chúa Giêsu, chúng ta xét lại chính bản thân
mình: Có bao giờ chúng ta đón nhận những anh chị em được xem là “tội lỗi” để
yêu thương họ và chết cho họ không? Thành thật mà nói, chúng ta thường giống
như những người Pharisêu, chúng ta không tiếp đón những người lầm lỡ, nhưng còn
chỉ trích những ai mở lòng đón tiếp những con người đáng thương đó. Thiên Chúa
không cần của lễ, nhưng cần một con tim biết yêu thương để ôm chầm tất cả những
người tội lỗi. Chúng ta có con tim như thế để dâng lên Ngài không?