Suy niệm Lời Chúa: Thứ Ba tuần 13 Thường niên
DÙ
CUỘC ĐỜI ĐẦY SÓNG GIÓ, CHÚA GIÊSU LUÔN Ở BÊN BẠN
(St
19:15-29;
Mt 8:23-27)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc
Dũng, SDB
Bài đọc 1 hôm nay cung cấp cho
chúng ta chi tiết về lý do tại sao Ápraham “trả giá” với Chúa về việc không thiêu huỷ thành Xơđôm và Gômôra,
đó là vì gia đình Lót cháu của ông đang ở đó. Gia đình ông Lót có 4 người: ông,
vợ ông và hai người con gái [và hai con rể] (x. St 19: 15-16). Nhưng trong câu
chuyện hôm nay, chúng ta thấy chỉ có 4 người được cứu [Lót, vợ ông, và hai
người con gái] vì hai người con rể từ chối đi theo (x. St 19: 12-14). Chúng ta
có thể rút ra những điểm sau trong bài đọc 1 để suy gẫm:
Hành động của hai người khách
[hai sứ giả]: Hai vị này cố gắng đưa gia đình của Lót ra khỏi nơi sẽ bị phạt.
Họ tìm mọi cách để hoàn thành sứ mệnh của mình: bằng lời nói [“Đứng lên! Đưa vợ và hai con
gái ông đang ở đây đi đi, kẻo ông phải chết lây khi thành bị phạt” (St 19:15)] và bằng hành động
[Ông còn
đang chần chừ thì hai người khách nắm lấy tay ông, tay vợ ông và tay hai người
con gái ông, vì Đức Chúa muốn cứu ông; các ngài đưa ông ra và để bên ngoài
thành” (St
19:16)]. Chi tiết này chỉ cho chúng ta cách thức để giúp những ai đang sống trong
sự nguy hiểm sẽ bị luận phạt. Chúng ta phải tìm mọi cách giúp họ. Chúng ta
không chỉ nói suông, nhưng còn dùng hành động của mình để làm gương sáng.
Thái độ “chần chừ” và “bất
tuân” của ông Lót và vợ ông: Chúng ta thấy, sứ giả nói ông “hãy trốn đi để cứu mạng sống
mình! Đừng ngoái lại đằng sau, đừng dừng
lại chỗ nào cả trong cả Vùng. Hãy trốn lên núi kẻo bị chết lây” (St 19:17). Ông Lót và vợ
dường như không tuân theo cả ba điều, mà chỉ muốn làm theo ý mình. Thay vì trốn
lên “núi” thì Lót lại muốn vào một thành nhỏ. Trong Kinh Thánh, hình ảnh “núi”
biểu trưng cho nơi Thiên Chúa hiện diện. Khi sứ giả nói “hãy trốn lên núi kẻo
bị chết lây” đồng nghĩa với “hãy tìm nương ẩn nơi Đức Chúa, Đấng ban sự sống.”
Nhưng ông Lót muốn tìm nương ẩn nơi con người [nơi thành nhỏ Xôa] hơn là nơi
Thiên Chúa. Đây cũng là thái độ chúng ta thường có khi gặp hoạn nạn trong cuộc
sống. Chúng ta thường cậy dựa vào sức mình hơn là tìm nương ẩn nơi Đức Chúa.
Sự công chính của Ápraham đã
cứu Lót: Câu chuyện kết thúc với việc Đức Chúa huỷ diệt Xơđôm và Gômôra như
Ngài đã phán. Nhưng Ngài “đã nhớ đến ông Ápraham và đã cứu ông Lót khỏi cuộc tàn phá, khi Người phá
đổ các thành nơi ông Lót ở” (St 19:29). Qua những lời này, chúng ta thấy Đức Chúa cứu ông Lót và gia đình ông
không phải chết vì công trạng của họ, nhưng vì
sự công chính và tình nghĩa giữa Ápraham với Đức Chúa. Chúng ta nghe trong Kinh
Thánh rằng: Đức Chúa lắng nghe những người công chính (x. Cn 15:29). Chi tiết
này mời gọi chúng ta sống đời sống nghĩa thiết với Thiên Chúa. Chỉ có đời sống
như thế, Đức Chúa sẽ ban ơn cứu độ cho những người cần đến.
Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp sau đoạn Chúa Giêsu dạy các
môn đệ về việc theo Ngài. Chúng ta cũng tìm thấy đoạn tường thuật này trong Tin
Mừng Thánh Máccô (4:35-41). Trong Tin Mừng Thánh Máccô, đoạn tường thuật này
được đặt ngay sau việc Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để giảng dạy. Một cách cụ thể
hơn, ngay sau khi nêu lý do tại sao Chúa Giêsu sử dụng dụ ngôn để giảng dạy,
Thánh Máccô cho biết Chúa Giêsu giục các môn đệ sang bờ bên kia. Trong bối cảnh
đó, để hiểu việc theo Chúa Giêsu, các môn đệ phải được Chúa Giêsu giải thích
khi “ở một mình với Ngài.” Còn Thánh Mátthêu đặt bài Tin Mừng này trong bối
cảnh theo Chúa Giêsu. Điều này được trình bày ngay câu đầu tiên của đoạn trích:
“Khi ấy,
Đức Giêsu xuống thuyền, các môn đệ đi
theo Người” (Mt 8:23). Theo Thánh Mátthêu, việc theo Chúa Giêsu không đơn giản vì đó là một hành
trình vượt biển hồ. Các môn đệ hiểu điều này vì nhiều người trong các ông là
dân đánh cá. Như chúng ta biết, trong Kinh Thánh, biển hồ là hình ảnh của sự
dữ. Theo cách nhìn này, việc theo Chúa là hành trình chiến đấu với sự dữ.
Theo các học giả Kinh Thánh,
đoạn Tin Mừng hôm nay có thể bị ảnh hưởng bởi Thánh Vịnh 107:23-32 và 104:5-9.
Nhưng điều này cũng không chắc chắn. Điều chắc chắn là Thánh Mátthêu sử dụng
cốt chuyện từ Thánh Máccô. Ngài viết lại câu chuyện nhằm mục đích hướng dẫn
cuộc sống Giáo Hội sau biến cố phục sinh. Khi so sánh hai bản văn, chúng ta
thấy Thánh Mátthêu luôn đặt Chúa Giêsu ở trung tâm. Ngài luôn được tôn vinh.
Chúng ta cùng nhau phân tích bốn câu còn lại của Tin Mừng (câu 24-27) để rút ra
những điều đáng suy gẫm cho ngày sống.
Hành trình vượt biển của các
môn đệ đang an bình thì “bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ” (Mt 8:24). Theo truyền thống, chiếc
thuyền “lênh đênh trên biển bị sóng ập vào” là hình ảnh Giáo Hội đang chiến đấu
với bắt bớ. Có hai chi tiết trong câu trên cần chúng ta lưu ý, đó là “biển động
mạnh khiến sóng ập vào thuyền” và “Chúa Giêsu vẫn ngủ.” Điều này ngụ ý nói gì
với chúng ta? Điều này có nghĩa là cuộc sống theo Chúa chắc chắn sẽ gặp sóng
gió ập vào chiếc thuyền cuộc đời. Nhưng một điều chắc chắn là Chúa Giêsu không
bỏ rơi chúng ta trong lúc sóng gió. Ngài vẫn hiện diện ở đó. Ngài chỉ “nghỉ
ngơi/ngủ” để chúng ta bước đi một mình với ánh mắt và con tim luôn hướng về
Ngài. Đừng để sóng gió cuộc đời làm chúng ta quên mất sự hiện diện đầy âm thầm
của Thiên Chúa trong con thuyền cuộc đời của mình.
Khi thấy mình không thể chiến
đấu với sóng gió, các môn đệ đánh thức Chúa Giêsu và nói: “Thưa Ngài, xin cứu
chúng con, chúng con chết mất!” (Mt 8:25). Lời cầu xin này của các môn đệ là lời cầu nguyện của Giáo Hội đang bị đe doạ
qua muôn thế hệ. Đây cũng là lời tuyên xưng đức tin của một Giáo Hội được miêu
tả với đặc tính mỏng dòn, yếu đuối luôn bị sóng đánh chao đảo. Cuộc sống của
mỗi người chúng ta cũng thế, nếu không có Chúa, chúng ta cũng sẽ bị sóng gió
nhận chìm. Hãy luôn nhớ lời Chúa Giêsu: “Không có Thầy, anh [chị] em sẽ không
làm được gì” (Ga 15:5).
Đứng trước sự sợ hãi của các
môn đệ, Chúa Giêsu “trách yêu” họ: “Sao nhát thế, hỡi những kẻ kém lòng tin!” (Mt 8:26). Mátthêu thay từ “không có lòng tin” của Máccô thành “kém lòng
tin.” “Kém lòng tin” giả định họ có lòng tin, nhưng là lòng tin trở nên yếu kém
đến nỗi không dám hành động. Theo các học giả Kinh Thánh, chi tiết này ám chỉ
đến niềm tin của thế hệ thứ 2 và thứ 3 sau các Tông Đồ. Họ kém lòng tin vì họ
quên mất Chúa Giêsu đang hiện diện trong thuyền. Dù trách các môn đệ, Chúa
Giêsu vẫn thực hiện điều các ông cầu xin: “Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe
gió và biển: biển liền lặng như tờ.” Hành động Chúa Giêsu ra lệnh cho biển yên gió lặng ám chỉ việc Ngài có
quyền trên các quy luật tự nhiên cũng như trên mãnh lực của sự dữ đang tìm cách
nhấn chìm con người.
Đứng trước việc Chúa Giêsu làm,
“người ta
ngạc nhiên và nói: ‘Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?’” (Mt 8:27). Một chi tiết ít
được chúng ta để ý là việc Thánh Mátthêu sử dụng từ “người ta.” Như chúng ta
biết, trong thuyền chỉ có Chúa Giêsu với các môn đệ. Đúng ra, Thánh Mátthêu
phải viết, “các môn đệ ngạc nhiên và nói.” Nhưng ngài không viết như thế mà
viết, “người ta ngạc nhiên và nói.” Khi dùng chữ “người ta,” Thánh Mátthêu muốn
nói đến mọi thành viên sẽ gia nhập Giáo Hội sau này. Qua chi tiết này, thánh sử
muốn thính giả đặt mình vào trong chiếc thuyền của Giáo Hội đang hành trình
trên biển với Chúa Giêsu, nhìn thấy những việc Ngài làm để giải thoát mọi người
trên thuyền mà tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta không hành trình đơn độc, nhưng
luôn sống liên kết với mọi người trong Giáo Hội. Hãy trở nên bén nhạy với những việc Chúa làm
cho chúng ta và người khác mà tôn vinh danh Ngài mãi muôn đời.