Suy niệm Lời Chúa: Thứ Ba tuần 4 Phục Sinh
CHIÊN
CỦA CHÚA GIÊSU THÌ NGHE TIẾNG NGÀI
(Cv
11:19-26; Ga
10:22-30)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Bài đọc 1 hôm nay trình thuật cho chúng ta về việc
rao giảng Tin Mừng của các Kitô hữu tiên khởi và sự thiết lập cộng đoàn Kitô
hữu ở Antiôkhia. Sau cuộc bách hại Têphanô, các môn đệ tản mác đi khắp nơi và
lời Chúa được rao giảng vượt ra khỏi giới hạn của người Do Thái và đến với
người Hy Lạp. Điều làm chúng ta suy gẫm là công việc rao giảng Tin Mừng được
đón nhận vì có bàn tay Chúa ở với những người đi rao giảng Tin Mừng: “Vì có bàn tay Chúa ở với họ, nên một số đông đã tin
và trở lại cùng Chúa” (Cv 11:21). Những lời này
trở thành những lời cảnh tỉnh cho mỗi người chúng ta, những người được mời gọi
đem Tin Mừng đến cho những người chúng ta gặp gỡ mỗi ngày. Sự thành công trong
đời sống rao giảng Tin Mừng không lệ thuộc vào khả năng hay công sức của con
người, nhưng hệ tại ở bàn tay Thiên Chúa hoạt động nơi những người mang Tin
Mừng. Điều này được thể hiện rõ nét trong hình ảnh của Banaba. Vì “ông là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin. Và
đã có thêm một đám rất đông theo Chúa”
(Cv 11:24). Chính đời sống thánh thiện hay đúng hơn để bàn tay
Thiên Chúa hoạt động trong mình, Banaba và Saolô đã thiết lập cộng đoàn ở
Antiôkhia, nơi “mà lần đầu
tiên các môn đệ được gọi là Kitô hữu” (Cv 11:26).
Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết những con
chiên của Chúa Giêsu thì biết Ngài là ai. Chúng ta có biết Chúa Giêsu không?
Câu mở đầu của trình thuật hôm nay đặt chúng ta vào bối cảnh lời khẳng định của
Chúa Giêsu: “Khi ấy, ở
Giêrusalem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đức Giêsu đi
đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Salômôn” (Ga 10:22-23). Bối
cảnh không chỉ trình bày một lễ mừng khác của người Do Thái mà trong đó mạng
sống của Chúa Giêsu bị đe doạ, nhưng còn đưa Ngài trở lại đền thờ nơi mà Ngài
mới bỏ ra đi vì người Do Thái mới định ném đá Ngài (x. Ga 8:59). Chi tiết này
cho thấy, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục tuân giữ những ngày lễ của người Do Thái, dù
Ngài biết nhiều người chống đối và muốn giết Ngài. Khi thấy Chúa Giêsu vẫn can
đảm đến trong lễ Cung Hiến Đền Thờ, “người Do Thái vây quanh Đức Giêsu và nói: ‘Ông còn để
lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin
nói công khai cho chúng tôi biết’” (Ga 10:24). Họ đòi hỏi nơi Ngài
một câu trả lời nơi công cộng cho câu hỏi Ngài có phải là Đức Kitô hay không.
Câu hỏi này đưa người đọc về với những cuộc tranh luận được thuật lại trong
chương 7 và 8. Trong những cuộc tranh luận đó, Chúa Giêsu đã từ chối không thực
hiện những dấu lạ ở Giêrusalem để tỏ ra thân phận của mình một cách công khai
(x. Ga 7:4). Nhiều người cũng không nói về Chúa Giêsu “một cách công khai vì sợ
người Do Thái” (Ga 7:13). Chúa Giêsu xuất hiện cách công khai ở Giêrusalem đã
dẫn đến việc nhiều người nghĩ rằng Ngài là Đức Kitô (x. Ga 7:26). Chi tiết này
gợi cho chúng ta những khoảnh khắc trong đời sống mà trong đó chúng ta cũng thắc mắc về căn tính của
Chúa Giêsu, những khoảnh khắc mà trong đó chúng ta đi trong bóng tối của niềm
tin và không thấy Ngài ở đâu, những khoảnh khắc mà chúng ta đối diện với đau
khổ và thử thách nhưng vẫn không thấy Ngài làm gì để thay đổi hoàn cảnh. Rồi
chúng ta cũng hỏi như người Do Thái: Ngài có phải là Đấng chúng tôi tin không?
Sao Ngài im lặng và không làm gì để giúp chúng tôi.
Đáp lại sự đòi hỏi trả lời công khai của người Do Thái, Chúa
Giêsu đã khẳng định rằng Ngài đã nói với họ về căn tính của Ngài rồi, nhưng họ
không tin: “Tôi đã nói
với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi,
những việc đó làm chứng cho tôi” (Ga 10:25). Câu
nói này không chỉ đến một đám đông cụ thể. Một câu nói trực tiếp như thế này
chỉ được nghe bởi một người tin. Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ Samaria
rằng Ngài chính là “Đức Kitô” [Messia] và với anh mù rằng Ngài là “Con Người.”
Cả hai sự kiện đều nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu, “Đấng đang nói với chị/anh,” là
Đấng mà câu nói trên ám chỉ về. Dĩ nhiên, Chúa Giêsu đã nói một cách công
khai về căn tính của mình trong khu vực Đền Thờ trong lễ mừng trước đó, trong câu khẳng
định thần tính của mình “Ta là” trong 8:24,58. Thánh sử muốn chúng ta nhớ lại sự kiện đó qua
việc kết thúc phần này với việc tái khẳng định sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và
Chúa con trong câu 30. Các công việc Chúa Giêsu thực hiện cũng làm chứng cho chân tính của Ngài.
Chi tiết này làm chúng ta xét lại chính cuộc sống và hành động của mình. Là
những người Kitô hữu, những môn đệ của Chúa Giêsu, những hành động của chúng ta
có làm chứng cho người khác biết chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu không? Hay
các hành động của chúng ta trở nên phản chứng? Có câu nói trong triết học rằng:
hữu thể nào hành động đó – nếu là môn đệ của Chúa Giêsu thì hành động phải
tương hợp là người môn đệ Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu đưa ra lý do tại sao người Do Thái không
tin, đó là “vì các ông
không thuộc về đoàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi
biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao
giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha
tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng
khỏi tay Chúa Cha” (Ga 10:26-29). Trong
những lời này, chúng ta thấy hình ảnh người mục tử trở lại trong trình thuật
khi Chúa Giêsu giải thích về sự thất bại trong đức tin với một hình ảnh khác về
việc phân rẽ giữa hai nhóm “con cái Ápraham” và “Con cái sự dữ.” Điều này là lý
do đưa Chúa Giêsu đến cái chết. Đám đông nghe Chúa Giêsu ở đây không thuộc hai
nhóm trên. Để hiểu những lời trên của Chúa Giêsu, chúng ta phải trở lại câu
6:44, trong đó Chúa Giêsu nói rằng không ai đến được với Ngài nếu không được
Chúa Cha thúc đẩy và tiếp theo đó là sự kiện một số môn đệ đã không còn theo
Chúa Giêsu (x. Ga 6:55). Kinh nghiệm về
thất bại trong đức tin, về sự chia rẽ cũng đang xảy ra trong cộng đoàn, vì thế
cộng đoàn Thánh Gioan đã sử dụng những kinh nghiệm trên để mời gọi người khác
đến với đức tin hầu nhờ đức tin mà biết được sự loại trừ, sự thất bại của mình trong ơn gọi làm môn đệ,
và trong những cơn bách hại luôn xảy ra trong đời sống thường ngày. Những kinh
nghiệm này chính là điều ẩn chứa bên trong những lời Chúa Giêsu nói trên. Bởi
vì Thiên Chúa là Đấng trao ban những con chiên này cho Chúa Giêsu, không ai
(ngay cả những người lãnh đạo tôn giáo hành động nhân danh Thiên Chúa như những
người trong chương 9) có thể cướp họ khỏi Chúa Giêsu. Không ai có thể đánh bại
mục đích của Chúa Giêsu, đó là trao ban món quà sự sống muôn đời cho những ai
tin (x. Ga 17:2,6). Tấy cả những điều này xảy ra vì “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10:30). Chúng ta nhiều lần tự hào là môn đệ của
Chúa Giêsu, nhưng cũng nhiều lần chúng ta sống như không thuộc về Ngài. Chúng
ta đã không nghe theo tiếng Ngài hoặc có nghe thì cũng không đem ra thực
hành. Là Mục Tử Nhân Lành, Chúa Giêsu luôn biết chúng ta. Còn chúng ta, chúng
ta có biết Ngài và đi theo Ngài để được sự sống đời đời không?