Lắng và Lặng với Lời: Chúa Nhật III mùa Vọng năm C
CHÚA
NHẬT III MÙA VỌNG – NĂM C
Lời Chúa: Xp
3,14-17; Tc Is 12,2-6, Pl 4,4-7; Lc
3,10-18
Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?” Ông
trả lời: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như
vậy”. Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: “Thưa
Thầy, chúng tôi phải làm gì?” Gioan đáp: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn
định cho các ngươi”. Các quân nhân cũng hỏi: “Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm
gì?” Ông đáp: “Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với
số lương của mình”.
Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan
rằng: “Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng?” Gioan trả lời cho mọi người rằng:
“Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, – tôi
không xứng đáng cởi dây giày cho Người, – chính Người sẽ rửa các ngươi trong
Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi
thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!” Ông còn khuyên họ
nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.
(Bản dịch của Ủy ban Phụng tự HĐGMVN -
1973)
Suy niệm:
“TÔI KHÔNG XỨNG ĐÁNG”
Trong Tân Ước, cách diễn
tả này gắn liền với ba nhân vật. Người đầu tiên là Gioan Tẩy Giả; khi giới thiệu
về Đức Kitô, ông đã nói: “tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người” (Lc
3,16). Có lẽ vì thời xưa, người làm phép rửa thường cởi dép cho những người sắp
lãnh phép rửa trước khi giúp họ cởi áo, nên Gioan đã dùng hình ảnh này để khẳng
định rằng, ông không đáng làm phép rửa cho Đức Giêsu (x. Lời Chúa cho mọi người, chú thích của Lc 3,16). Thực vậy, theo Tin
Mừng Mátthêu, khi Đức Giêsu đến xin Gioan làm phép rửa, Gioan đã “một mực can
Người và nói: ‘Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với
tôi!’” (Mt 3,14). Nhưng cuối cùng, trong kế hoạch kỳ diệu của ơn cứu độ, người
tự nhận mình không xứng đáng đã trở thành vị ngôn sứ nối kết Cựu Ước và Tân Ước;
chính Đức Giêsu nói về ông rằng “trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai
cao trọng hơn ông Gio-an” (x. Lc 7,28).
Người thứ hai tự nhận
mình “không xứng đáng” là viên đại đội trưởng có người nô lệ bị bệnh nặng (x.
Lc 7,1-10). Theo tường thuật của thánh Luca, viên đại đội trưởng này cảm thấy
mình bất xứng đến hai lần. Trước hết, ông cảm thấy không xứng đáng đến gặp Đức
Giêsu nên đã nhờ một số kỳ mục người Do Thái đến hỏi xin giúp. Rồi khi Đức
Giêsu đích thân đến cứu chữa cho người nô lệ, thì một lần nữa, ông cho bạn hữu
ra thưa với Đức Giêsu rằng ông chẳng đáng rước Ngài vào nhà. Với những luật lệ
khắt khe của người Do Thái, tiếp chuyện hay vào nhà của một người dân ngoại
cũng có thể ra ô uế. Có lẽ vì thế mà viên đại đội trưởng đã không muốn Đức
Giêsu vì ông mà lỗi luật thanh sạch. Ông thật xứng đáng với lời khen của Đức
Giêsu: “…ngay cả trong dân Israel, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin
mạnh như thế” (Lc 7,10).
Nhân vật thứ ba đã dùng
cách nói này cho chính bản thân là thánh Phaolo Tông đồ. Trong thư thứ nhất gửi
tín hữu Côrintô, ngài viết: “tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ,
tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”
(1 Cr 15,9). Ý thức bản thân càng bất xứng, Phaolo càng nhanh nhạy nhận ra và
chân thành nhìn nhận ân ban nhưng không của Thiên Chúa: “tôi có là gì, cũng là
nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu” (1Cr 15,10). Thật
vậy, quyền năng từ ái của Chúa đã làm cho một người bách hại đạo như Phaolo trở
thành một lợi khí Thiên Chúa chọn để mang danh Người đến trước mặt các dân ngoại,
các vua Chúa và con cái Israel (x.Cv 9,15).
Lạy Chúa, ý thức được Chúa yêu
thương dù chúng con không xứng đáng
giúp chúng con nhận ra hồng ân
nhưng không của Chúa.
Được Chúa không những tha thứ
lỗi lầm, rút lại án phạt,
mà còn yêu thương ở gần bên và
sẻ chia vui mừng (x. Xp 3,14-17),
chúng con tìm được động lực để
đứng dậy sau những vấp ngã và lỗi tội.
Nhìn lại nguồn cội bản thân
và những điều kỳ diệu trong
công trình tạo dựng - cứu chuộc và thánh hóa (x. Tc Is 12),
chúng con khám phá ra sự hiện
diện thường hằng của Chúa
trong mọi lãnh vực và cảnh huống
của cuộc sống.
Nguyện cho những xác tín và
kinh nghiệm này trở thành nền tảng
giúp chúng con mãi “vui luôn
trong Chúa” (Pl 4,4) Amen!
Sr. Maria Võ Diễm Trinh, FMA