calendar 14/12/2024

Lắng và Lặng với Lời: Chúa Nhật III mùa Vọng năm C

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG – NĂM C

Download file ý chính

Lời Chúa: Xp 3,14-17; Tc Is 12,2-6, Pl 4,4-7; Lc 3,10-18

Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?” Ông trả lời: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy”. Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?” Gioan đáp: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi”. Các quân nhân cũng hỏi: “Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?” Ông đáp: “Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình”.

Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: “Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng?” Gioan trả lời cho mọi người rằng: “Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, – tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, – chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!” Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.

(Bản dịch của Ủy ban Phụng tự HĐGMVN - 1973)

Suy niệm: “TÔI KHÔNG XỨNG ĐÁNG”

Trong Tân Ước, cách diễn tả này gắn liền với ba nhân vật. Người đầu tiên là Gioan Tẩy Giả; khi giới thiệu về Đức Kitô, ông đã nói: “tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người” (Lc 3,16). Có lẽ vì thời xưa, người làm phép rửa thường cởi dép cho những người sắp lãnh phép rửa trước khi giúp họ cởi áo, nên Gioan đã dùng hình ảnh này để khẳng định rằng, ông không đáng làm phép rửa cho Đức Giêsu (x. Lời Chúa cho mọi người, chú thích của Lc 3,16). Thực vậy, theo Tin Mừng Mátthêu, khi Đức Giêsu đến xin Gioan làm phép rửa, Gioan đã “một mực can Người và nói: ‘Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!’” (Mt 3,14). Nhưng cuối cùng, trong kế hoạch kỳ diệu của ơn cứu độ, người tự nhận mình không xứng đáng đã trở thành vị ngôn sứ nối kết Cựu Ước và Tân Ước; chính Đức Giêsu nói về ông rằng “trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai cao trọng hơn ông Gio-an” (x. Lc 7,28).

Người thứ hai tự nhận mình “không xứng đáng” là viên đại đội trưởng có người nô lệ bị bệnh nặng (x. Lc 7,1-10). Theo tường thuật của thánh Luca, viên đại đội trưởng này cảm thấy mình bất xứng đến hai lần. Trước hết, ông cảm thấy không xứng đáng đến gặp Đức Giêsu nên đã nhờ một số kỳ mục người Do Thái đến hỏi xin giúp. Rồi khi Đức Giêsu đích thân đến cứu chữa cho người nô lệ, thì một lần nữa, ông cho bạn hữu ra thưa với Đức Giêsu rằng ông chẳng đáng rước Ngài vào nhà. Với những luật lệ khắt khe của người Do Thái, tiếp chuyện hay vào nhà của một người dân ngoại cũng có thể ra ô uế. Có lẽ vì thế mà viên đại đội trưởng đã không muốn Đức Giêsu vì ông mà lỗi luật thanh sạch. Ông thật xứng đáng với lời khen của Đức Giêsu: “…ngay cả trong dân Israel, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế” (Lc 7,10).

Nhân vật thứ ba đã dùng cách nói này cho chính bản thân là thánh Phaolo Tông đồ. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, ngài viết: “tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa” (1 Cr 15,9). Ý thức bản thân càng bất xứng, Phaolo càng nhanh nhạy nhận ra và chân thành nhìn nhận ân ban nhưng không của Thiên Chúa: “tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu” (1Cr 15,10). Thật vậy, quyền năng từ ái của Chúa đã làm cho một người bách hại đạo như Phaolo trở thành một lợi khí Thiên Chúa chọn để mang danh Người đến trước mặt các dân ngoại, các vua Chúa và con cái Israel (x.Cv 9,15).

Lạy Chúa, ý thức được Chúa yêu thương dù chúng con không xứng đáng

giúp chúng con nhận ra hồng ân nhưng không của Chúa.

Được Chúa không những tha thứ lỗi lầm, rút lại án phạt,

mà còn yêu thương ở gần bên và sẻ chia vui mừng (x. Xp 3,14-17),

chúng con tìm được động lực để đứng dậy sau những vấp ngã và lỗi tội.

Nhìn lại nguồn cội bản thân

và những điều kỳ diệu trong công trình tạo dựng - cứu chuộc và thánh hóa (x. Tc Is 12),

chúng con khám phá ra sự hiện diện thường hằng của Chúa

trong mọi lãnh vực và cảnh huống của cuộc sống.

Nguyện cho những xác tín và kinh nghiệm này trở thành nền tảng

giúp chúng con mãi “vui luôn trong Chúa” (Pl 4,4) Amen!

Sr. Maria Võ Diễm Trinh, FMA