Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 32 Thường niên năm B
Những số tiền lớn nhưng tình
yêu rất nhỏ
Một số tiền quá nhỏ nhưng tấm
lòng thật lớn lao
Lm.
Gioan B. Trần Văn Hào, SDB
Nhà văn Anderson Đan mạch đã
viết một câu truyện kể lại sự kiện xảy ra trong chính cuộc đời của ông. Câu truyện
vắn tắt như sau: “Vào một buổi tối mùa thu khi đi dạo phố một mình tại thủ đô
Copenhague, ông bỗng nghe một giọng nói yếu ớt từ đằng sau vọng lại: “Chú ơi,
mua hộ cháu bao diêm.” Nhà văn quay lại, chợt nhận ra một đứa bé gái, gương mặt
xanh xao, quần áo nhầu nát bẩn thỉu. “Chú ơi mua hộ cháu bao diêm, cả ngày cháu
chưa bán được một xu nào.” Giọng cô bé thật buồn. Nó bùi ngùi kể lại hoàn cảnh
đáng thương của nó. Mẹ chết sớm, con bé phải ở với một người cha nghiện ngập và
khá cọc cằn, nhưng nó rất thương bố nó. Nó cố lê lết khắp nơi để bán diêm, kiếm
chút tiền mang về cho bố những bữa ăn ngon. Anderson xúc động cho con bé ít tiền.
Đứa bé sáng rực đôi mắt và thầm nghĩ tối nay sẽ mua về cho bố một ổ bánh mì thật
ngon. “Chú ơi sao chú tốt với cháu thế? Chú tên gì, và chú làm nghề gì?” – Chú
tên Anderson, và chú làm nghề này. Nhà văn lấy tay vẽ vào khoảng không hình một
cái bút, ám chỉ ông là nhà văn. Đứa bé vẫn không hiểu, tưởng ông làm nghề bán
bút giống như nó đi bán diêm vậy. Anderson hẹn với đứa bé đầu năm tới sẽ trở lại
và cho nó một món quà, còn bây giờ ông phải đi xa.
Nhiều tháng trôi qua, Anderson
quên mất lời hứa của mình. Một bữa nọ, tình cờ ông trở lại Copenhague và chợt
nhớ tới con bé, mua cho nó một chiếc áo ấm, và đi tìm nó. Người chủ tiệm bên đường
nói cho ông biết rằng đứa bé đã chết rồi. Ngày đầu năm, người ta thấy nó nằm chết
cóng bên đường không biết từ lúc nào. Nó nằm chết giữa một đống bao diêm, trong
đó có một bao đã hết nhẵn. Có lẽ nó đốt diêm để sưởi cho bớt lạnh. Có điều là
khi nó chết, khuôn mặt vẫn còn hồng hào và dường như nó đang mỉm cười chờ đợi một
cái gì đó.
Anderson đứng chết lặng. Người
chủ tiệm nói tiếp, “Khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi áo của nó rơi ra
một vật gì giống như chiếc quản bút làm bằng những que diêm. Chắc nó làm để tặng
ai đó, vì trên quản bút có viết hàng chữ ‘tặng chú Anderson’.
Câu chuyện cảm động trên không
phải là một câu chuyện hư cấu, nhưng là một kỷ niệm buồn trong chính cuộc đời của
nhà văn. Câu chuyện này cũng giống như giai thoại về người đàn bà góa nghèo khổ
mà thánh Marcô thuật lại trong Tin mừng hôm nay. Cô bé bán diêm và người đàn bà
góa khá giống nhau. Giống nhau ở chỗ cả hai đều là những con người rất nghèo, bị
xã hội bỏ rơi. Giống nhau cũng ở chỗ cả hai là những con người rất quảng đại,
biết cho đi những gì mình có. Nhưng điểm giống nhau căn bản là, những con người
ấy tuy nghèo về vật chất, nhưng lại rất giàu về lòng nhân ái.
Thân
phận bà góa: người nghèo của Giavê
Trong bài đọc một, tác giả
sách Các Vua quyển thứ nhất cũng thuật lại giai thoại về bà góa nghèo thành
Sarepta. Người phụ nữ này đã trao tặng ngôn sứ Elia tất cả phần lương thực ít ỏi
còn sót lại trong nhà. Lòng quảng đại đó đã được Thiên Chúa đền đáp. Hũ bột của
bà không bao giờ vơi và bình dầu không bao giờ cạn. Vị tiên tri còn thực hiện
phép lạ cứu sống đứa con trai của bà. Trong xã hội Do Thái khi xưa, những phụ nữ
góa chồng bị cộng đồng gạt bỏ ra bên ngoài. Họ không có một quyền lợi gì về mặt
xã hội. Nhưng ngay từ thời Môise, vị thủ lãnh đã ban hành lề luật là không được
làm hại cô nhi, quả phụ (Đệ nhị luật 27, 19). Các ngôn sứ thường gọi các bà góa
là những người nghèo của Giavê (anawim), tức là những con người được Thiên Chúa
chúc phúc. Đặc biệt đến thời Chúa Giêsu, Ngài luôn lên tiếng bênh vực các bà
góa, những người thấp cổ bé họng trong xã hội. Hình ảnh của người đàn bà góa
trong Tin mừng hôm nay là một minh dẫn cụ thể. Ngay cả người phụ nữ Samari, một
phụ nữ ngoại giáo đã góa chồng và sống lang chạ với 5 người đàn ông khác, vẫn
không bị Chúa kết án và coi khinh. Ngược lại, Chúa kết án gay gắt thái độ giả
hình của các đầu mục Do thái. Họ làm ra vẻ đạo đức để moi hết tiền bạc của các
bà góa nghèo khổ (Lc 20, 47; 7, 11). Chúa cho đứa con trai bà góa thành Naim sống
lại cũng để diễn bày lòng thương cảm với những người phụ nữ bị bỏ rơi trong xã
hội thời bấy giờ (Lc 7,11-17). Ngôn sứ Anna, một phụ nữ góa chồng ngày đêm cư
ngụ và phục vụ đền thánh, cũng là một hình ảnh nổi bật về mẫu người luôn được Thiên
Chúa yêu thương và chúc lành.
Người thiếu phụ góa bụa trong
Tin mừng hôm nay được Đức Giêsu đề cao như một mẫu gương. Bà rất nghèo nhưng lại
giàu lòng quảng đại. Điểm son nơi người phụ nữ này không phải là những danh giá
xã hội hoặc sự giàu sang phú quý bên ngoài, nhưng chính là tấm lòng của bà.
Chúa nói với các môn đệ “Thầy bảo thật anh em, bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều
hơn ai hết” (Mc 12, 43 ).
Chẳng
ai cho không cái gì
Người ta vẫn thường nói thế.
Trong đời sống xã hội hiện nay, hầu như chẳng có ai cho không hoặc biếu không
cái gì. Khi trao tặng một phần quà, ngay cả những món quà từ thiện, chúng ta dễ
ngầm đặt ra điều kiện, ít là để khoe khoang sự quảng đại của mình cho người
khác thấy. Tính ích kỷ và sự keo kiệt là những nết xấu ai cũng có. Mỗi khi làm
công tác từ thiện, nhiều cá nhân cũng như những tổ chức xã hội thường hay bày
biện những hình thức rầm rộ, nào cờ xí, nào chụp hình đăng báo…. Điều này cũng
xảy ra ngay cả nơi các tổ chức tôn giáo. Dâng cúng nhà thờ một bức tượng hay một
cái ghế đá… phải được rao tên rao tuổi, phải được phát bằng ân nhân, khi chết
giáo xứ phải xin lễ cầu nguyện để trả nghĩa v.v…. Điều này không có gì đáng
nói, nếu người cho không ngỏ ý mà người nhận tự nguyện biểu tỏ sự biết ơn.
Nhưng, nhiều khi thói quen đó trở thành một căn bệnh chỉ nhằm để khoe khoang mà
thôi. Một vị linh mục khi đến tham dự lễ khánh thành tháp chuông tại một nhà thờ
nọ, lúc nghe rao tên tuổi vị ân nhân, đã khôi hài pha chút mỉa mai nói rằng: Chuông nhà thờ kêu rất sang và rất hay. Nó kêu
“Kiêu căng, kiêu căng” thay vì kêu ‘kính koong kính koong’ như các chuông nhà
thờ khác. Chúng ta hãy từ từ đọc kỹ lại bài Tin mừng hôm nay để suy nghiệm điều
này. Đức Giêsu trước khi quan sát người ta bỏ tiền vào hòm dâng cúng, đã cảnh
báo các môn đệ: “Anh em phải coi chừng những kinh sư ưa đi dạo quanh, xúng xính
trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ thích
chiếm chỗ nhất trong hội đường, thích ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc” (Mc 12, 38).
Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu cũng đưa ra huấn dụ căn bản để giúp chúng
ta nên hoàn thiện. Một trong những huấn dụ đó, là “Khi anh em bố thí đừng cho
tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6, 3 ), tức là đừng khoe khoang, đừng khua
chiêng gõ mõ để đề cao cái tôi kiêu ngạo nơi mình.
Sự khoe khoang luôn đi đôi với
tính keo kiệt, tức là cho đi với điều kiện. Điều kiện là phải được công bố tên
tuổi cho bàn dân thiên hạ được biết. Điều kiện là phải được nể trọng như một vị
ân nhân. Song chúng ta rất dễ quên rằng, mọi sự chúng ta đang sử dụng đều là ân
huệ Chúa ban. Thiên Chúa là chủ còn chúng ta chỉ là người quản lý. Chúng ta hãy
nhìn vào gương mẫu của người đàn bà góa hôm nay. Chúa đề cao lòng quảng đại của
bà, chứ Ngài không ca ngợi những người giầu có hoặc cánh Pharisiêu đã bỏ ra những
số tiền kếch xù thừa thãi chỉ để phô trương. Người Pharisiêu khoe với Chúa: “Con
ăn chay mỗi tuần 2 lần, con dâng cúng 1 phần mười tài sản của con”. Khi kể dụ
ngôn này, chúng ta đều biết Chúa đã kết luận như thế nào.
Đức
Giêsu, mẫu gương tuyệt hảo về lòng quảng đại
Nhiều người trong chúng ta, đặc
biệt các tu sỹ đã tự nguyện sống nghèo khó như lời khấn mà họ đã cam kết với
Chúa. Người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay cũng nghèo xác nghèo xơ. Gia
sản duy nhất mà bà sở đắc chỉ là 2 đồng xu cỏn con. Nhưng, nói một cách sâu xa
hơn, mẫu gương tuyệt hảo về tinh thần nghèo khó chúng ta phải học hỏi và sao
chép lại, không ở đâu khác mà là chính từ nơi Đức Giêsu. Không ai nghèo như
Ngài và cũng không ai quảng đại bằng Ngài. Trong thư thứ 2 gửi giáo đoàn Côrinthô,
thánh Phaolô đã viết: “Đức Giêsu Kitô vốn giàu sang phú quý nhưng đã trở nên
nghèo khó để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em nên giàu có” (2Cr 8, 9).
Ngài tự nguyện sống kiếp con người, sinh ra trần trụi không nơi trú thân. “Con
chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu”. Cao điểm
của sự nghèo khó nơi Chúa Giêsu, là Ngài đã bị chết phơi thây trần trụi trên thập
giá. Đôi tay Chúa dang rộng, không tích lũy bất cứ một của cải nào. Nhưng cũng
chính đôi tay ấy đã trao ban mọi sự, ngay cả đến mạng sống để hiển thị điều mà
Ngài đã nói với các học trò trong bữa tiệc ly: “Không có tình yêu nào cao cả
cho bằng mối tình của người hiến dâng sự sống cho bạn hữu” (Ga 15,13).
Hôm nay Chúa nêu ra mẫu gương
về lòng quảng đại của một người đàn bà góa nghèo khổ. Đồng thời, Chúa cũng mời
gọi chúng ta tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu nơi Thập giá để trải nghiệm lòng quảng
đại vô bờ bến mà chính Ngài đã diễn bày.
Đây là sứ điệp mà Lời Chúa hôm
nay muốn khải thị. Một vị thánh đã nói: “Không ai trong chúng ta nghèo đến mức
độ không có gì để cho”. Chúa chẳng thèm để ý tới những món tiền kếch xù mà những
người giàu có đã dâng cúng vào đền thờ, nhưng Ngài nhắc các học trò mẫu gương của
một phụ nữ nghèo. Bà ta nghèo mạt rệp, chỉ có 2 xu, nhưng đã trao dâng tất cả.
Một số tiền quá nhỏ, nhưng tấm lòng thật lớn lao và cao cả.
Chúng ta nhớ lại trình thuật
Chúa làm phép lạ nuôi sống năm ngàn người ăn no. Một đứa bé đã trao cho Chúa 5
cái bánh và 2 con cá, chẳng đáng giá bao nhiêu. Nhưng Đức Giêsu đã trân quý đón
nhận sự quảng đại của nó, và từ đó phép lạ đã xảy ra. Thiên Chúa không bao giờ
lượng giá con người qua những hình thức và số lượng bên ngoài. Ngài biết rõ tâm
can từng người. Đồng thời Ngài cũng không bao giờ thua kém lòng quảng đại của
chúng ta.
Kết
luận
Có một giai thoại trong cuộc đời
của thánh Phanxicô Assisi, đã được nhà văn Nikos Kazantzakis viết thành tiểu
thuyết. Sau khi đã cho đi tất cả của cải cho người nghèo, Phanxicô bắt đầu đi
lang thang khất thực. Vị thánh vừa đi vừa hát nghêu ngao. Một anh bạn cũ rất
thân quen gặp lại Ngài đã ngỡ ngàng và hỏi: “Này Phanxicô, đôi giày đắt tiền,
chiếc đồng hồ quý giá, quần áo sang trọng của anh đâu cả rồi?”. Phanxicô trả lời:
“Tất cả những thứ đó là của ma quỷ, tôi đã trả lại cho nó hết rồi.” Người bạn hỏi
tiếp: “Anh từ đâu lang thang đến đây và anh đang định đi đâu thế? – “Tôi đến từ
một nơi rất xa và tôi cũng đang đi về nơi xa xăm ấy”. Người bạn lắc đầu không
hiểu và hỏi tiếp: “Thế tại sao anh vừa đi vừa hát nghêu ngao như một thằng điên?”
– “Tôi hát để khỏi bị lạc đường.”
Là người đi theo Chúa Giêsu,
chúng ta cũng rất dễ lạc đường, nếu để cho của cải bủa vây. Điều quan trọng nhất
là chúng ta dám bứt phá, dám phá đổ pháo đài ích kỷ của mình để biết quảng đại
cho đi như người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay.